Bài viết

TÓM TẮC TIỂU SỬ VÀ QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA LIỆT SĨ LÊ DU

Đà Nẵng16/04/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Lê Du, sinh tháng 3/1923 ở Làng An Châu, xã Hòa Khương. Nay là xã Hòa Phú, Huyện Hòa Vang, Thành Phố Đà Nẵng. Sinh ra trong một gia đình địa chủ phá sản. Đồng chí sớm giác ngộ cách mạng, tháng 3/1945 vào Đoàn thanh niên cứu quốc ở Tổng Bưởi (Tức tổng An Phước, Huyện Hòa Vang). Sau khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 làm thư ký Việt Minh xã và tham gia giảng dạy tại trường An Phước. Đến năm 1946 là cấp ủy viên thanh niên cứu quốc tỉnh Trần Cao Vân (Quảng Nam) và được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam năm 1946.

- Năm 1947: Huyện Ủy viên.

- Năm 1948 - 1949: Phó Bí thư Huyện ủy Hòa Vang.

- Năm 1950 - 1951: Ủy viên Ban tuyên huấn Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng.

- Năm 1952- 1954: Trưởng Ban tuyên huấn học tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng.

- Đến giữa tháng 11/1954: trên đường đi công tác tại thôn Thất Sáu, huyện Thăng Bình bị địch bắt và tra tấn đến hy sinh.

Trong cuộc đời hoạt động và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, Đồng chí là tấm gương mẫu mực, kiên cường chấp nhận hy sinh không khai báo và không đầu hàng địch. Qua các nhân chứng kể lại trong lúc bị bắt tại thôn Thất Sáu, chúng đã tra tấn Đồng chí từ 3 giờ chiều đến 10 giờ đêm bằng tất cả mọi thủ đoạn, đánh đập, đổ nước xà phòng …Nhưng chúng vẫn không khai thác được gì, đến 10 giờ đêm Đồng chí nói khác nước quá, thế là bọn chúng xốc nách Đồng chí bảo cho đi uống nước, nhưng thực ra bọn chúng đưa ra khỏi nơi tra tấn khoản 500m bên vệ đường, sẳn có các hố được đào sẳn để núp máy bay giặc, chúng đã đẫy Đồng chí xuống hố và lấp lại. Đồng chí đã hy sinh, tất cả quá trình tra tấn đó các đồng chí lão thành cách mạng và dân làng ở Vùng Thất Sáu ai cũng biết đã kể lại cho gia đình đồng chí biết sau ngày giải phóng và dân làng cùng địa phương đã giúp đỡ đưa thi hài đồng chí Lê Du về nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Phong năm 1987.

Đồng chí Lê Du có người vợ hiền là Nguyễn Thị Lẫm mặt dầu đã biết chồng hy sinh nhưng vẫn thủ tiết thờ chồng nuôi con ăn học, hướng về con đường cách mạng. Người con cả là Tiến sĩ Lê Tấn Duy và con thứ là thạc sĩ Lê Tấn Nghĩa. Trong kháng chiến chống Mỹ ác liệt, bản thân người vợ đã tham gia hoạt động bí mật, đóng góp quỹ nuôi quân cho cách mạng và cũng đã từng bị địch bắt, o ép nhưng một lòng trung thành với cách mạng. Đồng chí Lê Du đã hy sinh, để lại trong lòng đồng đội niềm cảm phục tiết thương vô hạn.

Trong kỷ yếu 100 năm trường tiểu học An Phước, người học trò Lâm Quang Vinh (Ở Cẩm Toại Đông) đã viết về những điều thầy giáo Lê Du làm và dạy dỗ học trò như sau: Thầy Du cho chúng tôi khiêng một cây tre nhỏ ở thôn, sau lớp học, hướng dẫn cho chúng tôi đắp một ngôi sao năm cánh làm chân đế cột cờ. Từ đó, sáng nào trước khi đi học, thầy đều cho chúng tôi chào cờ, hát quốc ca. Thầy Du dạy rất hay. Giọng thầy nhỏ nhẹ, triều mến. Chính ở lớp này, Thầy đã dạy chúng tôi một bài tập đọc rất dài: “Bản Tuyên ngôn độc lập”. Ngày hôm nay, tuổi gần 70, tôi vẫn nhớ như in trong không khí trang nghiêm của lớp học, khi cả lớp lắng nghe thầy đọc Bản Tuyên ngôn độc lập. Và tôi đã đọc thuộc lòng phần lớn bài tập đọc đó. Giờ đây, thỉnh thoảng giảng cho sinh viên, tôi vẫn đọc thuộc từng đoạn Tuyên ngôn độc lập, đâu đó tôi đã thuộc từ thuở ấu thơ, trong lớp của Thầy Du. Thầy Du không học sư phạm nhưng Thầy dạy rất có bài bản, cẩn thận. Thầy luôn chú ý uốn nắn cho học sinh từng con số, từng chữ và tôi nhớ rỏ khi giải thích các từ khó trong Tuyên ngôn độc lập, như từ “Hạn chế”, Thầy đã diễn nôn là “Giảm bớt” và chúng tôi hiểu ngay. Các buổi sơ kết, Thầy tự mua quà tặng cho học trò. Thầy tặng tôi một cuốn sách hồng có tựa đề là “Công chúa tóc Vàng” vì Thầy nói tôi giống con gái. Thầy ghi ở trang đầu như sau: “Tặng em Hy, ngoan ngoãn, mỹ miều như cô gái, chăm chỉ học giỏi”… Khi tản cư vào miền trong, nghe tin Thầy bị giặc Pháp sát hại, tôi đau đớn vô cùng và cảm giác đau đớn đó còn lại cho đến ngày hôm nay. Trong lớp học của Thầy Du, tôi có hai người bạn thân cùng ở thôn Cẩm Toại Đông, ngày ngày cùng đến trường. Đó là Luyến và Dậu. Tuổi thơ chào cách mạng rất hồ hởi, hồn nhiên. Nghe những tiếng “Đồng bào”, những câu “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng”, nhừng lời giải thích rất đơn giản của Thầy Du về hai chữ “Cộng sản”… chủng tôi rất thú vị và biến ngay thành hành động. Ba chúng tôi kết thành nhóm “Bình đẳng”.

Đồng chí Lê Du đã yên nghĩ cùng đồng đội tại nghĩa trang liệt sĩ xã Hòa Phong này. Là đồng chí lão thành cách mạng, có ý tưởng và đạo đức trong sáng, dũng cảm hy sinh trước quân thù. Đồng chí là tấm gương sáng cho thế hệ mai sau. Đảng tôn vinh công lao của đồng chí, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam đã truy tặng cho đồng chí Lê Du Huân chương độc lập hạng III.

Gia đình cung cấp tư liệu

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn