Tôn Đức Thắng là nhà cách mạng và chính khách Việt Nam

Sinh trong một gia đình nông dân ở vùng sông nước Nam Bộ, Tôn Đức Thắng sớm chịu ảnh hưởng của truyền thống yêu nước chống ngoại xâm. Ông học nghề thợ cơ khí tại Sài Gòn, gia nhập phong trào công nhân và từng tham gia cuộc phản chiến của thủy thủ Pháp ở Biển Đen năm 1919, ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Sau khi trở về nước, ông sáng lập Công hội bí mật ở Sài Gòn – Chợ Lớn, góp phần đặt nền móng cho phong trào công nhân Việt Nam. Bị thực dân Pháp bắt năm 1929, ông bị đày ra Côn Đảo suốt 15 năm nhưng vẫn kiên định lý tưởng. Tại đây, ông tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên trong nhà tù. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, ông được trả tự do và đảm nhận nhiều trọng trách: Bộ trưởng Nội vụ, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, rồi kế nhiệm Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước năm 1969. Hơn 30 năm gắn bó công tác Mặt trận, Tôn Đức Thắng được xem là “nhà lãnh đạo tiêu biểu của chính sách đại đoàn kết toàn dân”. Ông góp phần thống nhất các tổ chức Mặt trận, hình thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước trong kháng chiến và kiến quốc . Với đức độ và nhân cách giản dị, ông trở thành tấm gương về cần, kiệm, liêm, chính, được nhân dân trìu mến gọi là “Bác Tôn”. Tôn Đức Thắng là người Việt Nam đầu tiên được trao Giải thưởng Hòa bình Lenin. Tư tưởng về đoàn kết, nhân ái và phục vụ nhân dân của ông tiếp tục được tôn vinh qua các di tích như Nhà lưu niệm Tôn Đức Thắng ở An Giang và Bảo tàng Tôn Đức Thắng tại TP. Hồ Chí Minh


