Tôn Thất Tùng - Bàn tay vàng ngoại khoa và ngọn đuốc sáng của nền Y học Việt Nam
Giáo sư, Bác sĩ Tôn Thất Tùng (1912 – 1982) là một nhà phẫu thuật thiên tài, người đặt nền móng cho nền ngoại khoa hiện đại và là biểu tượng ngời sáng của nền y học Việt Nam. Nổi danh thế giới với "phương pháp mổ gan khô" mang tên chính mình, ông đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cứu người, đào tạo các thế hệ thầy thuốc và xây dựng hệ thống y tế nước nhà từ những ngày đầu kháng chiến gian khổ. Với 123 công trình khoa học đỉnh cao cùng những đóng góp vĩ đại mang tầm quốc tế, ông đã được Đảng và
Bài viết: Giáo sư Tôn Thất Tùng – Bàn tay vàng ngoại khoa và ngọn đuốc sáng của nền Y học Việt Nam
Trong lịch sử y học thế giới, có những phát minh đã làm thay đổi cả một phương thức điều trị, cứu sống hàng triệu sinh mạng và đưa tên tuổi của người sáng tạo ra nó vào hàng ngũ những vĩ nhân. Đối với nền y học Việt Nam và thế giới, Giáo sư, Bác sĩ Tôn Thất Tùng chính là một huyền thoại như thế. Bằng trí tuệ mẫn tiệp, bàn tay tài hoa và trái tim hết lòng vì người bệnh, ông đã khai sinh ra "phương pháp mổ gan khô" — một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử ngoại khoa toàn cầu, đưa y học Việt Nam kiêu hãnh sánh ngang với các cường quốc năm châu.
Bác sĩ Tôn Thất Tùng sinh ngày 10 tháng 5 năm 1912 tại Thanh Hóa, xuất thân trong một gia đình vọng tộc triều Nguyễn có quê gốc tại huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Thủa niên thiếu, ông ra Hà Nội học tập và thi đỗ vào Trường Y Dược toàn cấp Đông Dương vào năm 1935. Thời bấy giờ, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, sinh viên bản xứ bị phân biệt đối xử, chỉ được thực tập ngoại trú mà không được tham gia các kỳ thi "nội trú" để nâng cao trình độ. Không chấp nhận sự bất công đó, người thanh niên Tôn Thất Tùng đã dũng cảm đấu tranh, buộc chính quyền thực dân phải mở cuộc thi nội trú đầu tiên vào năm 1938. Ông đã trúng tuyển một cách xuất sắc với vị trí thủ khoa, mở đường cho các thế hệ bác sĩ nội trú người Việt sau này.
Cũng chính trong giai đoạn này, từ một lần phát hiện giun chui trong đường mật của một bệnh nhân, ông đã nảy ra ý tưởng táo bạo: dùng những lá gan nhiễm giun để phẫu tích tìm hiểu cấu trúc mạch máu. Suốt từ năm 1935 đến 1939, chỉ với một con dao nạo thô sơ, ông đã miệt mài phẫu tích trên 200 lá gan tử thi để vẽ lại sơ đồ đối chiếu mạch máu. Công trình luận án tốt nghiệp "Cách phân chia mạch máu của gan" của ông đã chấn động giới y học, mang về cho ông Huy chương Bạc của Trường Đại học Tổng hợp Paris và trở thành tiền đề cho những phát minh vĩ đại sau này.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhận thức được sứ mệnh của một người trí thức yêu nước, bác sĩ Tôn Thất Tùng hăng hái tham gia Việt Minh và được tin tưởng giao nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông cùng các đồng nghiệp rời thủ đô, di chuyển qua nhiều địa bàn gian khổ tại Việt Bắc như Tuyên Quang, Phú Thọ để xây dựng các tuyến quân y dã chiến, cứu chữa thương bệnh binh. Giữa rừng sâu thiếu thốn đủ đường, ông vẫn vừa tổ chức điều trị, vừa nghiên cứu khoa học, đào tạo sinh viên y khoa và cùng Giáo sư Đặng Văn Ngữ sản xuất thành công thuốc kháng sinh penicillin phục vụ chiến trường. Giai đoạn từ năm 1947 đến 1954, ông được tin tưởng giữ chức vụ Thứ trưởng Bộ Y tế nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hòa bình lập lại, trên cương vị Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và Chủ nhiệm Bộ môn Ngoại Đại học Y Hà Nội, Giáo sư Tôn Thất Tùng đã cống hiến trọn vẹn tài năng cho sự nghiệp hiện đại hóa y học nước nhà. Năm 1958, ông là người đầu tiên thực hiện thành công ca mổ tim tại Việt Nam. Đến những năm 1960, ông công bố phương pháp "cắt gan có kế hoạch" (phương pháp Tôn Thất Tùng). Khác với phương pháp cổ điển của phương Tây phải mất vài giờ và mất rất nhiều máu, phương pháp của ông cho phép thắt các mạch máu trong gan trước khi cắt, giúp cuộc mổ chỉ diễn ra trong vài chục phút, hạn chế tối đa chảy máu và nâng cao tỷ lệ sống sót của bệnh nhân. Phương pháp này đã được đưa vào sách giáo khoa y học của nhiều quốc gia và đưa ông trở thành Viện sĩ của các Viện Hàn lâm Phẫu thuật danh giá tại Paris, Liên Xô, và nhiều nước khác.
Không chỉ dừng lại ở phẫu thuật, Giáo sư Tôn Thất Tùng còn là người tiên phong đặt nền móng nghiên cứu tác hại khốc liệt của chất độc hóa học dioxin đối với con người và môi trường Việt Nam, tìm ra các phương pháp điều trị ung thư gan bằng phẫu thuật kết hợp miễn dịch. Đến tận những ngày cuối đời, ông vẫn miệt mài bên bàn mổ và các công trình khoa học cho đến khi đột ngột qua đời vì nhồi máu cơ tim vào ngày 7 tháng 5 năm 1982.
Ghi nhận những công lao trời biển của ông, Đảng và Nhà nước đã trao tặng ông danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Hồ Chí Minh, và Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I (1996). Để tri ân ông, một giải thưởng Y học cao quý mang tên Giải thưởng Tôn Thất Tùng đã được thành lập từ năm 2000, và tên ông được trang trọng đặt cho nhiều tuyến đường, trường học trên khắp cả nước. Giáo sư, Bác sĩ Tôn Thất Tùng ra đi, nhưng ngọn lửa đam mê khoa học, tinh thần tự tôn dân tộc và tấm lòng nhân ái "thầy thuốc như mẹ hiền" của ông vẫn luôn cháy mãi, soi đường cho các thế hệ thầy thuốc Việt Nam tiếp tục cống hiến vì sức khỏe của nhân dân.


