TỔNG BÍ THƯ LÊ DUẨN
+ Họ và tên: Lê Duẩn + Tên khai sinh: Lê Văn Nhuận + Tên gọi khác: Anh Ba + Năm sinh: 7/4/1907 + Năm mất: 10/7/1986 + Quê quán: Xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị + Danh hiệu: Nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam; Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam + Chức vụ từng giữ: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, sau là Đảng Cộng sản Việt Nam (1960–1986). Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng (1960–1976). Ủy viên Bộ Chính trị. Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Đại biểu Quốc hội nhiều khóa.

Đồng chí Lê Duẩn, tên khai sinh là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907 tại xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình lao động nghèo giàu truyền thống yêu nước. Tuổi thơ của đồng chí gắn liền với cuộc sống cơ cực của người dân miền Trung dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Chính hoàn cảnh đó đã hun đúc trong đồng chí lòng yêu nước nồng nàn, ý chí đấu tranh kiên cường và khát vọng giành độc lập cho dân tộc.
Sau khi học hết bậc tiểu học, đồng chí làm việc tại ngành đường sắt Đông Dương. Trong quá trình lao động, đồng chí tích cực tham gia các phong trào đấu tranh của công nhân, sớm tiếp cận tư tưởng cách mạng và nhận thức rõ vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Năm 1928, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tham gia xây dựng cơ sở cách mạng ở miền Trung.
Năm 1930, sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Với phẩm chất kiên trung, năng lực tổ chức và tư duy chiến lược, đồng chí nhanh chóng được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng. Trong thời kỳ phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, đồng chí trực tiếp tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Trung và bị thực dân Pháp bắt giam nhiều lần.
Từ năm 1931 đến năm 1936, đồng chí bị kết án tù và giam giữ tại nhiều nhà lao, trong đó có Nhà tù Côn Đảo. Dù phải sống trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, tích cực học tập lý luận Mác – Lênin, tổ chức sinh hoạt chính trị và động viên các đồng chí tiếp tục đấu tranh ngay trong nhà tù. Sau khi được trả tự do năm 1936, đồng chí nhanh chóng trở lại hoạt động, góp phần khôi phục hệ thống tổ chức Đảng sau thời kỳ bị thực dân Pháp khủng bố.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí giữ nhiều trọng trách quan trọng của Đảng. Năm 1946, đồng chí được cử vào Nam Bộ làm Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến ở chiến trường Nam Bộ. Với phương châm bám dân, bám đất, xây dựng chiến tranh nhân dân rộng khắp, đồng chí đã góp phần giữ vững phong trào kháng chiến trong điều kiện vô cùng khó khăn. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, quân và dân Nam Bộ lập nhiều chiến công, tạo thế và lực cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Sau Hiệp định Genève năm 1954, đồng chí được Trung ương Đảng giao ở lại miền Nam một thời gian để chỉ đạo phong trào cách mạng. Từ thực tiễn đấu tranh ở miền Nam, đồng chí đã nghiên cứu, tổng kết và soạn thảo bản "Đề cương cách mạng miền Nam", đặt nền móng cho đường lối cách mạng ở miền Nam trong giai đoạn mới. Những quan điểm của đồng chí có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, mở đường cho phong trào đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, từng bước đưa cách mạng miền Nam phát triển mạnh mẽ.
Tháng 9 năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, giữ vai trò lãnh đạo cao nhất trong công tác điều hành của Đảng. Sau khi đất nước thống nhất năm 1976, đồng chí tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cương vị người đứng đầu Đảng, đồng chí cùng Trung ương lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Sau năm 1975, đồng chí tập trung lãnh đạo công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, thống nhất đất nước về mọi mặt, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đồng chí luôn nhấn mạnh vai trò của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, đồng chí vẫn kiên trì tìm tòi các giải pháp nhằm đưa đất nước phát triển.
Không chỉ là nhà lãnh đạo chính trị xuất sắc, đồng chí Lê Duẩn còn là nhà lý luận của Đảng. Đồng chí để lại nhiều tác phẩm quan trọng về đường lối cách mạng Việt Nam, xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, quốc phòng và đối ngoại. Các bài viết, bài phát biểu của đồng chí đã góp phần bổ sung và phát triển tư duy lý luận của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng.
Với phong cách lãnh đạo quyết đoán, sâu sát thực tiễn, luôn đặt lợi ích của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết, đồng chí Lê Duẩn được cán bộ, đảng viên và nhân dân kính trọng. Đồng chí luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến đời sống của nhân dân, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ngày 10 tháng 7 năm 1986, đồng chí Lê Duẩn từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Gần sáu mươi năm hoạt động cách mạng liên tục, đồng chí đã có những cống hiến đặc biệt to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng chí được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Sao Vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Tên của đồng chí được đặt cho nhiều trường học, tuyến đường, công trình công cộng trên cả nước. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí mãi là biểu tượng của lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, ý chí kiên cường, bản lĩnh chính trị vững vàng và tinh thần cống hiến trọn đời vì độc lập, tự do của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.


