Tổng Bí thư Lê Duẩn
Nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và cách mạng Việt Nam
Đồng chí Lê Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Xuất thân từ một gia đình lao động có truyền thống yêu nước, đồng chí Lê Duẩn sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng.
Đồng chí Lê Duẩn thuộc lớp người đầu tiên, như: Trường Chinh, Tôn Đức Thắng, Võ Nguyên Giáp… hưởng ứng lời kêu gọi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vĩ đại, đi theo và kiên định con đường cách mạng vô sản, tiếp tục sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và các bậc tiền bối cách mạng, “là chiến sĩ thuộc lớp cận vệ đầu tiên của Đảng, một người học trò lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến, đồng chí Lê Duẩn đã cống hiến trọng đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân và cho lý lưởng cộng sản chủ nghĩa”(1).
Năm 1928, đồng chí gia nhập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên và năm 1930, trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1931, đồng chí là Ủy viên Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Bắc Kỳ…; và sau đó, đồng chí bị địch bắt ở Hải Phòng, bị thực dân Pháp kết án 20 năm tù cầm cố, lần lượt bị giam giữ ở các nhà tù Hà Nội, Sơn La và Côn Đảo…
Năm 1936, do cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và thắng lợi của Mặt trận nhân dân ở Pháp, chính quyền thực dân Pháp buộc phải trả tự do cho đồng chí Lê Duẩn. Ra khỏi nhà tù, đồng chí ra sức hoạt động cách mạng ở các tỉnh miền Trung, trong phong trào dân chủ…, tập hợp những quần chúng ưu tú chống bọn phản động thuộc địa, chống nguy cơ phát-xít và chiến tranh… Năm 1937, đồng chí được cử giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung kỳ… Năm 1939, đồng chí được cử vào Thường vụ Trung ương Đảng và cuối năm đó, cùng đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì Hội nghị Trung ương 6, quyết định thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế thay Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đưa cuộc đấu tranh cách mạng sang một thời kỳ mới. Tại Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11-1939), trước những thay đổi quan trọng của tình hình thế giới và trong nước, Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng Việt Nam, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Song lúc này, cách mạng Việt Nam chưa đủ những điều kiện cần thiết để tiến hành một cuộc khởi nghĩa vũ trang để giành thắng lợi.
Trong khi đó, những thay đổi trong tình hình thế giới thời kỳ này đã khiến Quốc tế Cộng sản chủ trương thành lập mặt trận chống chủ nghĩa phát xít Đức - Ý - Nhật tại Đại hội VII của Quốc tế Cộng sản (năm 1937), cùng những diễn biến ở trong nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc thành lập Mặt trận Việt Minh, thúc đẩy phong trào cách mạng giải phóng dân tộc, nắm bắt được thời cơ “ngàn năm có một”, tiến hành Tổng khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc và ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt chế độ thực dân và phong kiến, đưa Việt Nam tiến lên trên con đường độc lập - tự chủ - tự cường, phát triển kịp với trào lưu của thế giới…
Với đồng chí Lê Duẩn, sau Hội nghị Trung ương 6, đến năm 1940, đồng chí lại bị địch bắt ở Sài Gòn, bị kết án 10 năm tù và bị đày đi Côn Đảo lần thứ hai, cho đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công; và lúc này, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đón về đất liền, tham gia ngay vào cuộc kháng chiến ở Nam Bộ (Nam Bộ kháng chiến bắt đầu từ ngày 23-9-1945).
Năm 1946, đồng chí Lê Duẩn ra Hà Nội, làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng Trung ương Đảng chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp. Cuối năm 1946, đồng chí được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng cử vào lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (năm 1951), đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam. Trong giai đoạn từ năm 1946 đến năm 1954, trên cương vị Bí thư xứ ủy rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí Lê Duẩn đã sát cánh cùng với các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Giai đoạn năm 1954 - 1957, đồng chí Lê Duẩn ở lại miền Nam, trực tiếp lãnh đạo cuộc cách mạng. Trong những năm tháng đầy khó khăn, gian khổ ấy, sống trong lòng nhân dân, được nhân dân che chở, bảo vệ và gọi với cái tên “Anh Ba” thân thương, đồng chí tập trung củng cố cơ sở cách mạng, chuẩn bị cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai.
Năm 1957, Trung ương Đảng cử đồng chí Lê Duẩn lãnh đạo công việc chung của Đảng bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, đồng chí được bầu làm Bí thư thứ nhất trong Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa III. Suốt 15 năm trên cương vị này, nhất là sau tháng 9-1969, đồng chí cùng với Bộ Chính trị, Trung ương Đảng kiên định Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo cả nước vượt qua khó khăn, gian khổ, từng bước giành những thắng lợi quan trọng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước…
Đồng chí Lê Duẩn cùng với Bộ Chính trị lãnh đạo toàn quân và dân ta vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, lập nên những chiến công hiển hách, mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết: “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đã thể hiện ở trình độ cao phương châm tích cực chủ động và cơ động linh hoạt của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương. Bộ thống soái tối cao, đứng đầu là đồng chí Lê Duẩn, đã quyết định đúng đắn kế hoạch cơ bản và kế hoạch thời cơ, nhanh chóng chuyển sang kế hoạch thời cơ, từ dự kiến lúc đầu là 2-3 năm, với tinh thần “thần tốc, táo bạo, quyết thắng”, Chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành được thắng lợi trọn vẹn; trong vòng hai tháng cuộc tiến công vũ bão của ta làm cho địch không kịp trở tay, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc”


