Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Tổng Bí thư Lê Duẩn – Nhà lãnh đạo kiên cường của cách mạng Việt Nam

PHAN THỊ CẨM NHUNG

Bắc Ninh22/08/2026xã Tuệ Tĩnh (Xã Tuệ Tĩnh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Duẩn là một trong những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn trong lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX. Gần 60 năm hoạt động cách mạng, ông trải qua nhiều giai đoạn đấu tranh gian khổ, từ những năm chống thực dân Pháp đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và những năm đầu xây dựng đất nước sau thống nhất.

Đồng chí Lê Duẩn sinh ngày 7-4-1907 tại thôn Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sinh ra trong một gia đình lao động có truyền thống yêu nước, ông sớm tiếp xúc với phong trào cách mạng và tham gia hoạt động từ khi còn trẻ.

Năm 1928, Lê Duẩn tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đến năm 1930, ông trở thành một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng. Từ đây, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức cách mạng.

Năm 1931, Lê Duẩn bị thực dân Pháp bắt và kết án tù. Ông lần lượt bị giam tại nhiều nhà lao, trong đó có Sơn La và Côn Đảo. Trong điều kiện tù đày khắc nghiệt, ông cùng các đồng chí tiếp tục tổ chức học tập chính trị và đấu tranh chống chế độ nhà tù.

Sau khi được trả tự do năm 1936, ông trở lại hoạt động cách mạng ở miền Trung. Cuối năm 1938, Lê Duẩn được cử làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Năm 1939, ông tham gia Ban Thường vụ Trung ương Đảng và cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ sáu.

Năm 1940, Lê Duẩn tiếp tục bị bắt và bị đưa đi giam giữ tại Côn Đảo. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông trở lại đất liền và tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông giữ nhiều trọng trách, trong đó có Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và Bí thư Trung ương Cục miền Nam. Ông có vai trò quan trọng trong việc tổ chức và lãnh đạo phong trào cách mạng ở miền Nam.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, Lê Duẩn tiếp tục ở lại miền Nam trong những năm tháng phong trào cách mạng gặp nhiều khó khăn. Ông đi sâu vào cơ sở, hoạt động trong sự che chở của nhân dân và nghiên cứu tình hình thực tế để xây dựng đường hướng đấu tranh phù hợp.

Trong giai đoạn này, ông hoàn thành “Đề cương cách mạng miền Nam”, một văn kiện quan trọng định hướng phong trào cách mạng miền Nam trong những năm tiếp theo.

Năm 1960, tại Đại hội III của Đảng, Lê Duẩn được bầu giữ chức Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, ông cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam thực hiện đồng thời nhiệm vụ xây dựng miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đây là giai đoạn đặc biệt quyết liệt của lịch sử dân tộc. Với cương vị người đứng đầu Đảng, Lê Duẩn cùng tập thể lãnh đạo đề ra nhiều chủ trương lớn, tổ chức và động viên sức mạnh của hậu phương miền Bắc, đồng thời lãnh đạo cuộc đấu tranh ở miền Nam.

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất. Lê Duẩn tiếp tục giữ cương vị Tổng Bí thư, cùng Trung ương Đảng lãnh đạo công cuộc khôi phục đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong hoàn cảnh mới.

Ông qua đời ngày 10-7-1986, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Đối với quê hương Quảng Trị, Lê Duẩn là một người con tiêu biểu đã từ vùng đất giàu truyền thống yêu nước bước vào con đường cách mạng và trở thành một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của đất nước.

Thông điệp:
“Kiên định lý tưởng – gắn bó với nhân dân – tận tâm vì độc lập, thống nhất Tổ quốc.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn