Tổng Bí thư Lê Duẩn – Nhà lãnh đạo kiệt xuất, nhà lý luận sáng tạo và ngọn đèn kiên trung của cách mạng Việt Nam
Bài viết khắc họa toàn diện cuộc đời, xuất thân gian khó, hành trình gần 60 năm hoạt động cách mạng kiên cường cùng những cống hiến lý luận và thực tiễn đặc biệt xuất sắc của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn – người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đứng đầu Đảng suốt 26 năm liên tục, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi lịch sử năm 1975 và đặt những nền móng tư duy đầu tiên cho công cuộc Đổi mới đất nước.

I. Xuất thân gia đình, quê hương và những năm tháng thiếu thời (1907 – 1925)
Đồng chí Lê Duẩn tên khai sinh là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1907. Đồng chí sinh ra trong một gia đình lao động nghèo, sống chủ yếu bằng nghề thủ công và nông nghiệp, giàu truyền thống yêu nước tại làng Bích La Đông, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay thuộc xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Gia cảnh và dòng họ:
Cha của đồng chí là ông Lê Văn Hiệp, con út trong một gia đình có chín anh chị em, làm nghề thợ mộc, thông thạo chữ Nho và từng thi đỗ khóa sinh.
Mẹ của đồng chí là bà Võ Thị Đạo, xuất thân trong một gia đình làm nông tại địa phương.
Ông nội của đồng chí là ông Lê Văn Thống, từng hăng hái tham gia phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX.
Trong gia đình có 5 người con, Lê Văn Nhuận là con thứ ba, nhưng do hai người anh trai mất sớm nên cậu trở thành con trai trưởng trong nhà. Vì cuộc sống chật vật, gia đình đã chuyển về sống gần chợ Sãi ở làng Hậu Kiên lân cận để mưu sinh bằng lao động tiểu thủ công nghiệp và làm thuê.
Con đường học vấn đầu đời:
Ngay từ nhỏ, Lê Văn Nhuận đã được gia đình cho học chữ Hán với các thầy đồ trong làng, trước khi chuyển sang học chữ Quốc ngữ.
Năm 1914, khi 7 tuổi, cậu bắt đầu học tại trường phủ Triệu Phong. Là người con duy nhất trong gia đình được đi học, cậu vừa chăm chỉ học tập vừa dành thời gian dạy chữ cho em gái.
Năm 1920, cậu thi đỗ bằng Sơ học yếu lược và được nhận vào Trường Tiểu học Pháp - Việt Quảng Trị. Trong những năm học tại đây, cậu nổi bật với tính cần mẫn, đặc biệt yêu thích các môn lịch sử, văn học và tìm đọc các tác phẩm yêu nước của nhà chí sĩ Phan Bội Châu.
Năm 1923, cậu thi đậu bằng tiểu học, trở thành học sinh đầu tiên của làng Hậu Kiên tốt nghiệp bậc học này.
Bước ngoặt tại Huế:
Năm 1924, Lê Văn Nhuận vào Huế thi tuyển vào Trường Quốc học Huế. Tuy nhiên, do mắc bệnh thương hàn trong thời gian ôn thi, cậu chỉ đạt kết quả đỗ dự thính và phải nghỉ học sau 6 tháng.
Quyết định ở lại Huế ôn tập, đến tháng 11 năm 1925, khi chính quyền thuộc địa Pháp mở phiên tòa xét xử và tuyên án tử hình cụ Phan Bội Châu, hưởng ứng làn sóng đấu tranh bùng nổ khắp cả nước, cậu thanh niên Lê Văn Nhuận đã tích cực tham gia phong trào học sinh Huế đòi giảm án cho nhà yêu nước Phan Bội Châu. Những trải nghiệm này đã trực tiếp thức tỉnh tinh thần yêu nước và đặt nền móng cho thế giới quan cách mạng của đồng chí.
II. Bước đầu giác ngộ lý tưởng, tôi luyện qua hai lần tù đày và củng cố hệ thống Đảng (1925 – 1945)
1. Gia nhập phong trào công nhân và trở thành lớp đảng viên đầu tiên
Hoạt động tại Đà Nẵng: Sau khi rời Huế về Quảng Trị, Lê Văn Nhuận quyết định đi Đà Nẵng tìm cơ hội lập nghiệp. Thời gian đầu cậu làm gia sư, đến tháng 5 năm 1926 chuyển sang làm thư ký tại Sở Hỏa xa Đà Nẵng. Tại đây, cậu tích cực tham gia phong trào tưởng niệm Phan Chu Trinh, vận động công nhân tẩy chay hàng ngoại và thành lập "Hội Ái hữu Lái xe Trung Kỳ" (Hội Ái Hữu ở Đà Nẵng) nhằm đoàn kết công nhân. Cậu bắt đầu tiếp cận các ấn phẩm chính trị như Việt Nam hồn, Tân thế kỷ, các tác phẩm của Karl Marx, Friedrich Engels, V.I. Lenin và bắt đầu sử dụng bí danh Lê Duẩn.
Năm 1927, khi tuyến đường sắt Vinh – Đông Hà hoàn thành, đồng chí Lê Duẩn được điều ra Hà Nội làm thư ký dépôt tại Sở Hỏa xa Đông Dương (khu vực ga Hàng Cỏ). Đồng chí trọ tại ngõ Gạch (đường Yên Phụ), thường xuyên tìm đọc lý luận Mác - Lênin qua hiệu sách Văn Khê thư quán trên phố Hàng Gai do Nguyễn Tạo (hội viên Tân Việt Cách mệnh Đảng) điều hành, đồng thời say mê nghiên cứu tác phẩm Đường Kách mệnh và báo Thanh niên. Năm 1928, đồng chí chính thức gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập, tích cực tuyên truyền, phát tán truyền đơn và vận động công nhân đường sắt vùng Hà Nội, Gia Lâm.
Trở thành đảng viên lớp đầu tiên: Tháng 2 năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng chí Lê Duẩn trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên tại Hà Nội / Đảng Cộng sản Đông Dương. Đến tháng 10 năm 1930, đồng chí được phân công làm Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp biên soạn tài liệu tuyên truyền và chỉ đạo phong trào đấu tranh của công nhân tại Hà Nội và Hải Phòng.
2. Tôi luyện trong ngục tù thực dân và chuyển hướng chiến lược cách mạng
Lần bị bắt và tù đày thứ nhất (1931 – 1936): Cuối tháng 4 năm 1931, sau các cuộc biểu tình nhân Ngày Quốc tế Lao động tại Hải Phòng, đồng chí Lê Duẩn bị mật thám Pháp bắt giữ. Chính quyền thực dân kết án đồng chí 20 năm tù khổ sai, lần lượt giam cầm qua các nhà lao Hỏa Lò, Sơn La và Côn Đảo. Trong chốn lao tù ngột ngạt, đồng chí cùng các đồng chí cộng sản vẫn kiên cường đấu tranh chống chế độ giam giữ hà khắc, biến nhà tù thành trường học lý luận Mác - Lênin để rèn luyện chí khí cho các chiến sĩ.
Đứng đầu Xứ ủy Trung Kỳ và Ban Thường vụ Trung ương: Năm 1936, khi Mặt trận Bình dân lên cầm quyền ở Pháp, đồng chí được trả tự do và trở về Trung Kỳ hoạt động. Tháng 3 năm 1938, đồng chí đảm nhiệm cương vị Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ, lãnh đạo cao trào Mặt trận Dân châu Đông Dương đòi dân sinh, dân chủ. Đến năm 1939, đồng chí được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tháng 11 năm 1939, tại Bà Điểm (Hóc Môn), đồng chí Lê Duẩn đã cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và chuẩn bị điều kiện tiến tới giành chính quyền.
Lần bị bắt thứ hai và ngày giải phóng (1940 – 1945): Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, cuối năm 1940, đồng chí Lê Duẩn lại bị chính quyền thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn / Quảng Trị, bị kết án 10 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Nêu cao chí khí kiên trung bất khuất trong suốt những năm tháng bị giam cầm, đến tháng 4 năm 1945, khi bộ máy quản lý nhà tù tan rã sau cuộc đảo chính của Nhật, đồng chí đã được các đồng chí tổ chức giải thoát. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chính phủ đã cử tàu ra đón đồng chí cùng các chiến sĩ cách mạng từ Côn Đảo trở về đất liền tham gia cuộc kháng chiến.
III. Lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và ngọn cờ kiên cường bám trụ chiến trường miền Nam (1945 – 1957)
1. Quyền Trưởng Xứ ủy Nam Bộ và Bí thư Trung ương Cục
Chỉ đạo Nam Bộ kháng chiến: Ngày 23 tháng 9 năm 1945, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Sài Gòn. Tháng 10 năm 1945, tại Hội nghị cán bộ mở rộng ở ấp Cây Mai (Chợ Lớn), đồng chí Lê Duẩn được bầu làm quyền Trưởng Xứ ủy Nam Bộ. Đồng chí đã cùng tập thể Xứ ủy chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố chính quyền cách mạng các cấp và phát động cuộc kháng chiến toàn dân.
Xây dựng căn cứ kháng chiến Nam Bộ: Cuối năm 1946, sau khi ra Hà Nội làm việc bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí lại được Bác Hồ và Trung ương Đảng tin tưởng cử vào Nam Bộ trực tiếp chỉ đạo cuộc kháng chiến. Từ năm 1946 đến năm 1954, trên cương vị Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, đồng chí đã lăn lộn khắp các chiến khu miền Đông, miền Tây, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Gia nhập Bộ Chính trị: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951), dù đang trực tiếp công tác tại chiến trường Nam Bộ không thể ra dự, đồng chí Lê Duẩn vẫn được bầu vắng mặt vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Khi Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế Xứ ủy Nam Bộ năm 1951, đồng chí tiếp tục được phân công làm Bí thư Trung ương Cục miền Nam (1951 – 1954).
2. Kiên cường bám trụ miền Nam và tác phẩm "Đề cương cách mạng miền Nam"
Ba lần xin ở lại miền Nam: Tháng 7 năm 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Sau khi hoàn thành việc phổ biến hiệp định và chỉ đạo chuyển quân tập kết ra Bắc, mặc dù Trung ương yêu cầu ra Bắc công tác, đồng chí Lê Duẩn đã dũng cảm ba lần gửi điện xin ở lại miền Nam để trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng và cuối cùng được Trung ương chấp thuận.
Bí mật hoạt động giữa sào huyệt địch: Bí mật di chuyển từ Cà Mau, Bến Tre lên Sài Gòn, đồng chí đặt cơ sở hoạt động bí mật tại số nhà 29 đường Huỳnh Khương Ninh (Quận 1) và trải qua nhiều lần ẩn náu tại Đà Lạt trước sự truy quét gắt gao của chính quyền Ngô Đình Diệm. Đồng chí đảm nhận vai trò Bí thư Xứ ủy Nam Bộ tái lập, phân chia cơ cấu lãnh đạo thành các liên tỉnh khu để duy trì phong trào.
Sáng tạo "Đề cương cách mạng miền Nam": Tháng 8 năm 1957, tại Sài Gòn, đồng chí Lê Duẩn đã trực tiếp khởi thảo bản văn kiện lịch sử "Đề cương cách mạng miền Nam". Bản đề cương đã phân tích sâu sắc bản chất tàn bạo của chế độ Mỹ - Diệm, chỉ rõ nhân dân miền Nam không có con đường nào khác ngoài con đường làm cách mạng lật đổ chính quyền Mỹ - Diệm, đồng thời đề xuất phương hướng kết hợp giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang tự vệ. Tác phẩm lý luận kinh điển này đã trở thành cơ sở tư tưởng nền tảng cho việc ra đời Nghị quyết 15 của Trung ương Đảng sau này.
IV. Bí thư Thứ nhất, kiến trúc sư chỉ đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ và sự nghiệp thống nhất đất nước (1957 – 1975)
1. Trở về miền Bắc, hoàn thiện Nghị quyết 15 và đảm nhiệm cương vị Bí thư Thứ nhất
Trở ra Hà Nội làm Quyền Tổng Bí thư: Tháng 4 năm 1957, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương triệu hồi ra Hà Nội (di chuyển bí mật qua đường Campuchia, Hồng Kông, Quảng Châu với hộ chiếu mang tên Kha Chi Ngụy). Trở về Thủ đô, đồng chí được giao đảm nhiệm cương vị Quyền Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đồng chí đã trực tiếp chủ trì chỉnh sửa, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 15 (tháng 1/1959, chính thức phê chuẩn tháng 5/1959). Nghị quyết 15 ra đời đã đáp ứng trúng nguyện vọng sục sôi của nhân dân miền Nam, cho phép sử dụng bạo lực cách mạng kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, đồng thời quyết định thành lập Đoàn 559 mở tuyến vận tải chiến lược Đường mòn Hồ Chí Minh.
Trở thành nhà lãnh đạo đứng đầu Đảng: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9/1960), đồng chí Lê Duẩn chính thức được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đồng chí trở thành nhà lãnh đạo điều hành thực tế của Đảng và cách mạng Việt Nam. Chỉ 3 tháng sau Đại hội, ngày 20 tháng 12 năm 1960, theo đề xướng của đồng chí, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập nhằm tập hợp rộng rãi các lực lượng yêu nước chống Mỹ - Diệm.
2. Hoạch định đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược
Hai nhiệm vụ chiến lược: Đồng chí Lê Duẩn đã cùng Bộ Chính trị xây dựng và hoàn thiện đường lối tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (đóng vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng) và đấu tranh giải phóng miền Nam (đóng vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà).
Phương thức chiến tranh nhân dân Việt Nam: Đồng chí đã đúc kết và phát triển lý luận chiến tranh nhân dân lên tầm cao mới: kết hợp hai lực lượng (lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị); thực hiện "ba mũi giáp công" (chính trị, quân sự, binh vận); kết hợp tiến công quân sự của quân chủ lực với cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân tại cả ba vùng chiến lược (nông thôn đồng bằng, đô thị và miền núi).
Nhạy bén trước các bước ngoặt chiến tranh: Khi Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965), trong thư gửi Trung ương Cục miền Nam, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn đã khẳng định bản chất cuộc chiến không đổi và đặt mục tiêu tiêu diệt sinh lực quân Mỹ để đập tan ý chí xâm lược của Washington. Đồng chí là kiến trúc sư chỉ đạo áp dụng chiến lược ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Đồng chí trực tiếp chỉ đạo thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969) và đẩy mạnh cục diện "vừa đánh, vừa đàm" tại Hội nghị Paris.
Ngoại giao độc lập, tự chủ: Trong bối cảnh mâu thuẫn Trung - Xô gay gắt, đồng chí Lê Duẩn đã chèo lái đường lối đối ngoại vô cùng khôn khéo: vừa tranh thủ tối đa nguồn viện trợ kinh tế, quân sự của cả Liên Xô và Trung Quốc, vừa kiên quyết giữ vững tư thế độc lập, tự chủ tuyệt đối trong việc hoạch định đường lối tác chiến. Đồng chí từng khẳng định đanh thép trước các đồng minh: "Việt Nam là của chúng tôi; không phải của đồng chí".
3. Hoàn thành Di chúc của Bác Hồ, giải phóng hoàn toàn miền Nam
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (tháng 9/1969), trên cương vị nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã cùng Bộ Chính trị giữ vững quyết tâm chiến đấu, biến đau thương thành hành động cách mạng.
Trước sự suy yếu của quân đội Sài Gòn sau Hiệp định Paris 1973, đồng chí Lê Duẩn cùng Bộ Tổng Tư lệnh đã nhạy bén nắm bắt thời cơ chiến lược, đề ra chủ trương "đánh nhanh để thắng nhanh". Nhờ sự chỉ đạo sát sao của đồng chí và Bộ Chính trị, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã giành thắng lợi vẹn toàn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu giang sơn về một mối và thực hiện trọn vẹn Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ.
V. Lãnh đạo đất nước sau thống nhất, phát triển tư tưởng xây dựng CNXH và những tiền đề khởi xướng công cuộc Đổi mới (1975 – 1986)
1. Thống nhất đất nước về mặt Nhà nước và mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa
Cương vị Tổng Bí thư: Sau đại thắng năm 1975, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) và Đại hội lần thứ V (năm 1982) của Đảng, đồng chí tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng chí đã chỉ đạo tổ chức thành công cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội khóa VI, chính thức thống nhất hai miền về mặt Nhà nước, khai sinh nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Định hướng kinh tế và tư tưởng "Làm chủ tập thể": Đồng chí Lê Duẩn đã dành nhiều tâm huyết xây dựng hệ thống lý luận về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở một nước nông nghiệp lạc hậu bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Đồng chí đề xướng tư tưởng cốt lõi về "Chế độ làm chủ tập thể" – thể chế hóa thành cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". Đồng chí chỉ đạo tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng (quan hệ sản xuất, khoa học - kỹ thuật, tư tưởng và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt), coi công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm.
Học thuyết "Ba làn sóng cách mạng": Đồng chí đã phát triển học thuyết "Ba làn sóng cách mạng" (phong trào XHCN, phong trào công nhân tư bản và phong trào giải phóng dân tộc), nhấn mạnh việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc và mở rộng quan hệ quốc tế.
Bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ: Trực tiếp lãnh đạo cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam (12/1978) lật đổ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, giúp nhân dân Campuchia hồi sinh, đồng thời chỉ đạo cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (1979) và ký Hiệp ước hữu nghị thắt chặt liên minh chiến lược Việt - Xô.
2. Những tìm tòi thực tiễn và tiền đề khởi xướng công cuộc Đổi mới
Trăn trở trước khó khăn kinh tế: Vào đầu thập niên 1980, nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa V (tháng 12/1983), Tổng Bí thư Lê Duẩn đã thẳng thắn tự phê bình và công khai thừa nhận những sai lầm trong chỉ đạo kinh tế.
Ủng hộ các sáng kiến đổi mới từ cơ sở: Là một nhà lãnh đạo thực dụng và nhạy bén với thực tiễn, đồng chí Lê Duẩn đã kín đáo bày tỏ sự đồng tình và tiếc nuối đối với mô hình "khoán hộ" tiên phong của Kim Ngọc ở Vĩnh Phúc, đồng thời ủng hộ việc hợp pháp hóa cơ chế khoán sản phẩm trong nông nghiệp (Chỉ thị 100 năm 1981).
Đặt nền móng cho tư duy Đổi mới: Đặc biệt, vào năm 1985, chính Tổng Bí thư Lê Duẩn đã trực tiếp đưa khái niệm "kinh tế nhiều thành phần" vào Nghị quyết của Bộ Chính trị. Đây được đánh giá là một đột phá tư duy lý luận xuất sắc nhưng ít được biết tới của đồng chí, góp phần đặt những viên gạch đầu tiên làm nền móng cho công cuộc Đổi mới toàn diện được Đảng chính thức khởi xướng tại Đại hội VI (tháng 12/1986).
Qua đời: Ngày 10 tháng 7 năm 1986, Tổng Bí thư Lê Duẩn trút hơi thở cuối cùng tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Linh cữu của đồng chí được an táng trang trọng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.
VI. Di sản lý luận đồ sộ, phong cách đạo đức mộc mạc và sự vinh danh của lịch sử
1. Di sản lý luận xuất sắc
Với gần 60 năm hoạt động cách mạng và 26 năm liên tục ở cương vị Bí thư Thứ nhất và Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn để lại một di sản tri thức chính trị - lý luận đồ sộ với gần 100 tác phẩm kinh điển. Các tác phẩm tiêu biểu như:
"Đề cương cách mạng miền Nam" (1957);
"Thư vào Nam";
"Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới" (1970);
"Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam";
"Lê Duẩn Tuyển tập" (3 tập)...
Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đều suy tôn đồng chí Lê Duẩn là nhà tư tưởng chính trị có ảnh hưởng lớn thứ hai trong thế kỷ XX tại Việt Nam, chỉ sau Chủ tịch Hồ Chí Minh.
2. Phong cách đạo đức giản dị, gần gũi và các bí danh dân dã
Nhân cách mẫu mực: Đồng chí Lê Duẩn là tấm gương sáng ngời về sự trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc; sống giản dị, chân thành, khiêm tốn, giàu lòng nhân ái và trọn đời vì hạnh phúc của nhân dân. Trong sinh hoạt thường ngày, đồng chí giữ lối sống mộc mạc, thường mặc áo bà ba, quần áo ngủ, đi guốc gỗ và cực kỳ ghét thói quan liêu, phô trương hình thức.
Những tên gọi thân thương: Trong lòng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Nam Bộ, đồng chí được gọi bằng những cái tên vô cùng gần gũi: "Anh Ba", "Anh Ba Duẩn", "Ba Huế". Đồng chí còn được giới trí thức Nam Bộ trân trọng dành tặng biệt danh tiếng Pháp "Deux cents bougies" (Ngọn đèn hai trăm nến / Ông Hai trăm Bugi) – hình ảnh ẩn dụ về một nguồn sáng chiến lược bền bỉ, kiên định và sáng tạo của cách mạng Việt Nam.
3. Gia đình cách mạng
Đồng chí kết hôn lần đầu năm 1928 với bà Lê Thị Sương ở quê nhà Quảng Trị – người phụ nữ đảm đang, nhân hậu, âm thầm gánh vác hậu phương và nuôi dạy các con (Lê Hãn, Lê Minh Cừ, Lê Thị Hồng, Lê Thị Muội) trong suốt những năm tháng chồng bị giam cầm, chiến đấu.
Năm 1950, tại chiến khu U Minh (Nam Bộ), đồng chí kết hôn lần thứ hai với bà Nguyễn Thụy Nga (Bảy Vân) – nữ du kích cách mạng miền Nam – và có ba người con (Lê Vũ Anh, Lê Kiên Thành, Lê Kiên Trung).
4. Tặng thưởng cao quý
Ghi nhận những cống hiến đặc biệt to lớn đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam cùng bạn bè quốc tế đã trao tặng đồng chí nhiều phần thưởng cao quý:
Huân chương Sao Vàng (Huân chương cao quý nhất của Việt Nam, trao năm 1986);
Giải thưởng Hòa bình Quốc tế Lenin (Liên Xô trao tặng năm 1980);
Huân chương Lenin (Liên Xô trao tặng năm 1982);
Huân chương Klement Gottwald (Tiệp Khắc);
Huân chương José Martí (Cuba);
Huân chương Karl Marx (Cộng hòa Dân chủ Đức);
Huân chương Vàng Quốc gia (Lào), cùng nhiều huân huy chương cao quý khác từ Campuchia, Ba Lan, Bulgaria, Hungary, Mông Cổ....
Cuộc đời và sự nghiệp vẻ vang của Tổng Bí thư Lê Duẩn là tấm gương sáng trọn đời vì nước, vì dân. Tên tuổi của đồng chí sẽ mãi mãi gắn liền với những mốc son chói lọi nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX.



