Tổng Bí thư Lê Hồng Phong: Trọn đời cống hiến vì Đảng và sự hy sinh bất tử tại ngục tù Côn Đảo
Lê Hồng Phong (1902 - 1942), tên thật là Lê Huy Doãn, quê Hưng Nguyên, Nghệ An, là nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từng học quân sự tại Liên Xô và được bầu làm Tổng Bí thư năm 1935, ông là linh hồn của nhiều cao trào cách mạng. Bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn và đày ra Côn Đảo với án 5 năm tù, ông chịu muôn vàn cực hình và anh dũng hy sinh năm 1942, để lại tấm gương kiên trung sáng ngời cho dân tộc.
Ông sinh năm 1902. Quê môn Thông, Thông Lạng, Huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (Tỉnh Nghệ An giữ nguyên ranh giới hành chính cấp tỉnh). Tên thật: Lê Huy Doãn, Hải An, La Anh.
Ông là người thông minh, học giỏi, tính tình trầm tĩnh hiền thục. Ông rất có hiếu, thường giúp cha mẹ trong việc lao động cực nhọc, có bạn bè rất cảm tình với ông. Việc học hành dở dang, ông thi đỗ, có văn hóa thức, ông ra thành phố Vinh làm thợ cho một hãng buôn người Hoa kiều.
Tại đây, ông được Phạm Hồng Thái - công nhân Nhà máy diêm Bến Thủy, giới thiệu cho học nghề thợ máy và trở thành một công nhân giỏi.
Năm 1923, 16 Tùng Mậu và Lê Hồng Phong tham gia tổ chức "Tâm Tâm xã" để tập hợp những người yêu nước kháng Pháp.
Tháng 1-1924, Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái sang lại Quảng Châu hoạt động để làm liên lạc cho những người yêu nước hải ngoại.
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu thành lập "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt cho tổ chức "Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội" nhằm chuẩn bị lực lượng cho Đảng Cộng sản.
Ông Lê Hồng Phong được học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, được cử đi học trường quân sự Hoàng Phố - Trung Quốc rồi sang Mátxcơva học tại máy bay Borisolevsik của Hồng quân Liên xô, trường dành cho các nhà Cách mạng Phương Đông.
Cuối năm 1930, Lê Hồng Phong làm Trưởng đoàn đại biểu Quốc tế Cộng sản lần thứ VII và được bầu vào Ban chấp hành Quốc tế Cộng sản. Tại đây, Ban lãnh đạo Đảng tổ chức Liên á cho ông và bà Nguyễn Thị Minh Khai.
Tháng 6-1934, tổ chức Đại hội đại biểu các Đảng bộ trong nước.
Cuối năm 1937, ông về nước hoạt động ở Sài Gòn - Chợ Lớn (Nay thuộc TP Hồ Chí Minh). Giữa năm 1938, ông bị bắt ở Chợ Lớn. Chúng kêu án 10 năm tù về tội mang căn cước giả. Mùa thu năm 1939, ông ra khỏi tù, nhưng bị quản thúc tại Nghệ An, nhưng ông lại trốn vào Sài Gòn hoạt động.
Ngày 29-9-1939, ông lại bị bắt ở Chợ Lớn, nhưng giam đập tra khảo dã man và giam ông tại Khám Lớn Sài Gòn. Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ diễn ra 23-11-1940, tuy thất bại nhưng đó là tiếng vang lớn, là tiền đề cho phong trào Cách mạng sau này.
Chúng đưa bà Nguyễn Thị Minh Khai ra gặp mặt ông Lê Hồng Phong, bồi chung biết ông bà là vợ chồng, nhưng cả hai đều nhất quyết không nhận nhau để giữ bí mật cho tổ chức, cho Đảng.
Trước tòa chúng ghép tội ông để có mức án tử hình, nhưng không thành vì thiếu chứng cứ lý, chúng tuyên án 5 năm tù và lưu đày ông ra Côn Đảo để thực hiện một âm mưu khác.
Vợ ông là Nguyễn Thị Minh Khai bị thực dân Pháp xử bắn ngày 28-8-1941, tại ngã ba Giồng, Hóc Môn. Bọn thực dân Pháp chỉ thị cho tên chúa đảo Bautillonai - Trừng trị triệt để, triệt tiêu một cách giết chết ông. Thế là ngày 6-9-1942, Lê Hồng Phong đã trút hơi thở cuối cùng tại địa ngục trần gian Côn Đảo (Côn Đảo nay thuộc TP Hồ Chí Minh).
Mộ ông được an táng ở nghĩa trang Hàng Dương, Côn Đảo. Người con gái duy nhất của hai nhà lãnh tụ Cộng sản ở, có là Lê Thị Hồng Minh hiện đang cư ngụ tại TP. Hồ Chí Minh.



