Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ sinh ngày 9 tháng 7 năm 1927 trong một gia đình nhà Nho nghèo có truyền thống yêu nước, và là hậu duệ đời thứ 17 của dòng họ Nguyễn Trãi ở thôn Phù Khê, xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1927, đồng chí Nguyễn Văn Cừ thi đỗ loại giỏi vào Trường Bưởi (Trường bảo hộ Lycée du Protectorat nay là Trường phổ thông trung học Chu Văn An, Hà Nội) trường trung học lớn nhất miền Bắc nước ta lúc bấy giờ. Tư tưởng yêu nước và cứu nước của đồng chí Nguyễn Văn Cừ bắt đầu những năm học ở Trường Bưởi, khi được tiếp xúc với nhiều bạn bè, học sinh lớp trên, được họ kể về những cuộc đấu tranh đã diễn ra trong nhà trường, như bãi khoá phản đối thực dân Pháp bắt và kết án cụ Phan Bội Châu, đòi làm lễ truy điệu và để tang cụ Phan Châu Trinh, tưởng niệm cụ Lương Văn Can.
Tại trường Bưởi, đồng chí Nguyễn Văn Cừ vừa học tập, vừa bí mật tìm hiểu về lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1928, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được các hội viên của tổ chức cách mạng ở trường Bưởi tuyên truyền, giác ngộ và kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Từ đó, đồng chí đã bí mật đọc nhiều tài liệu, sách, báo của hội như: Đường Kách Mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp, báo Thanh niên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tư tưởng của Người đã thấm sâu vào trí tuệ, trái tim của đồng chí Nguyễn Văn Cừ.
Khi đang học năm thứ hai bậc trung học, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị đuổi khỏi trường với lý do cùng một số bạn bè tiến bộ tìm cách vạch mặt bọn nịnh Tây khi làm thơ đả kích thói hư tật xấu của bọn bợ đỡ vô liêm sỉ đó.
Bị đuổi khỏi trường Bưởi, đồng chí nguyễn Văn Cừ trở về quê dậy học tại nhà cụ Dương Tuấn Duy tức cụ Cử Đỗ ở làng Hà Lỗ. Trong thời gian này, Nguyễn Văn Cừ được đồng chí Ngô Gia Tự khi đó là Bí thư Tỉnh hội Bắc Ninh của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên giao cho nhiệm vụ đi xây dựng cơ sở nơi đồng chí đang cư trú.
Cuối năm 1928, đồng chí Nguyễn Văn Cừ được đồng chí Ngô Gia Tự giới thiệu với đồng chí Nguyễn Đức Cảnh bí mật rời Bắc Ninh ra vùng mỏ Đông Bắc hoạt động.
Tại mỏ than Vàng Danh, nơi có nhiều khó khăn gian khổ nhất, đồng chí Nguyễn Văn Cừ hăm hở lao vào thực hiện nhiệm vụ, đồng chí sống và làm việc với anh em thợ. Thấy rõ được sự cùng khổ của anh chị em công nhân mỏ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ càng thấy phải có trách nhiệm trước sinh mệnh của họ.
Sau quá trình vận động, tuyên truyền, giáo dục thử thách, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã lựa chọn được một số công nhân mỏ hăng hái, nhiệt tình để thành lập các chi bộ ở Uông Bí, Mạo Khê, Hòn Gai, Hà Tu, Hà Lầm, Cẩm Phả, Cửa Ông...
Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3/2/1930), dưới sự chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Văn Cừ, các chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương đã lần lượt chuyển thành chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam ở các địa phương vùng mỏ.
Phong trào cách mạng ở vùng mỏ Đông Bắc đang dâng cao, tên chủ mỏ Vavatxơ và bọn mật thám tay sai điên cuồng tìm mọi cách đàn áp phong trào. Chúng cho người dò la khắp nơi, nhằm tìm bằng được người lãnh đạo. Đã có nhiều hội viên công hội ở Cẩm Phả đã bị bắt, trong đó có cả đảng viên cộng sản.

Đồng chí Nguyễn Văn Cừ (ảnh mật thám chụp)
Ngày 25/2/1931, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị bắt trên đường đi công tác từ Cẩm Phả về Hòn Gai. Chúng đưa đồng chí về mật thám Hòn Gai để dụ dỗ, tra tấn hòng moi được những thông tin về cơ sở đảng và cách mạng nhưng không khai thác được gì. Sau đó, chúng đưa đồng chí Nguyễn Văn Cừ về Sở Mật thám Hà Nội để tiếp tục khai thác. Đồng chí bị đánh đập với những đòn ác liệt hơn. Theo hồi ký của đồng chí của Phạm Văn Hảo là bạn học và cùng tham gia hoạt động cách mạng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ: “Hồi hoạt động ở khu mỏ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã bị Công ty Than Hòn Gai theo dõi và bắt giam. Chúng tra tấn hết sức dã man, dùng một cái trống lớn, bỏ mặt trống đi đóng đinh xung quanh miệng tang trống, bắt đồng chí ngồi rồi úp tang trống lên. Đang làm cho trống quay tít thì một chiếc đinh móc vào bên mắt trái, máu tóe ra, anh ngất đi, chúng phải đưa anh đi bệnh viện. Mắt trái bị đau lâu mới khỏi và khi khỏi thì bé hẳn đi: từ đó anh bị một mắt to, một mắt nhỏ”.
Một góc Nhà tù Hỏa Lò
Không tìm được chứng cứ, chúng đành đưa đồng chí vào Nhà tù Hỏa Lò để chờ ngày ra toà xét xử. Tại Nhà tù Hỏa Lò, không để rảnh rỗi thời gian, Nguyễn Văn Cừ lao vào học tập lý luận, chính trị một cách kiên trì, tự giác. Tại đây, đồng chí đã gặp các đồng chí: Trường Chinh, Bùi Xuân Mẫn, Ngô Gia Tự, Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Trọng Đàm, Lương Khánh Thiện, Lê Duẩn, được đọc nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có bản “Luận cương chính trị” của Đảng Cộng sản Đông Dương do đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư của Đảng khởi thảo và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua tháng 10/1930.
Trong tù, đồng chí Nguyễn Văn Cừ tìm mọi cách tuyên truyền, huấn luyện cho những đồng chí của mình và các bạn tù khác. Tài liệu học tập thường do đồng chí nhớ và viết lại, các tài liệu đã được chuyển cho nhau học: Luận cương chính trị, Cộng sản vấn đáp, Lao nông chủ nghĩa, Lao nông và vận động, Cách mạng thế giới, Lịch sử quốc tế, Ba Lê công xã, Điều lệ Đảng, Vấn đề tư sản, Vấn đề tranh đấu, Vấn đề gia đình, dân tộc, Xã hội chủ nghĩa, Kiến thiết ở Liên Xô, Giá trị thặng dư, Nông vận, Công vận, Thanh vân, Phụ vận, Kinh nghiệm công tác vận động quần chúng, Phê bình mục đích tối cao, Phê bình chủ nghĩa tam dân, Cách mạng Nga… Các tài liệu này còn được anh em tù chính trị mang theo những chuyến phát vãng đi Sơn La, Côn Đảo… để làm tài liệu tuyên truyền vận động cách mạng.
Ngày 13/5/1931, thực dân Pháp đưa đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số anh em tù chính trị ra Toà đại hình xét xử. Đồng chí bị buộc tội chống phá an ninh quốc gia (theo Nghị định ngày 29/9/1936, Tước bỏ quyền công dân trong 20 năm).
Tại tòa, đồng chí Nguyễn Văn Cừ vẫn bình tĩnh, hiên ngang bác bỏ những lời buộc tội của tên biện lý và nói: “… Tòa khép tôi vào tội có chân trong Đảng Cộng sản và âm mưu làm rối cuộc trị an. Không đúng! Tôi phải làm cách mạng, vì bọn đế quốc quá áp bức quần chúng, tìm hết cách bóc lột, nào sưu cao, thuế nặng, nào quốc trái để vơ vét cho chúng. Tôi làm cách mạng là để phá bỏ sự vơ vét bất công đó”. Mặc dù không đủ bằng chứng, toà án thực dân vẫn kết án đồng chí Nguyễn Văn Cừ và các đồng chí khác án khổ sai chung thân và đày đi Côn Đảo.
Tại nhà tù Côn Đảo, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị thực dân Pháp giam vào Banh 2, trong khu vực cấm cố, chuyên giam tù chính trị bị liệt vào tội nặng nhất. Tại đây, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã gặp nhiều đồng chí cộng sản tiêu biểu như: Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, Khuất Duy Tiến...
Ở địa ngục trần gian này, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và các đồng chí của mình đã tổ chức, tham gia vào nhiều cuộc đấu tranh chống lại chế độ hà khắc với tù chính trị và đòi cải thiện đời sống.
Ngoài những giờ lao động khổ sai, đồng chí Nguyễn Văn Cừ cùng với các đồng chí của mình học tập văn hoá, lý luận. Đồng chí cũng chịu khó học tiếng Pháp để có thể đọc trực tiếp, tham gia dịch một số tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin và chép ra giấy gói thuốc lá để phổ biến rộng rãi cho anh em khác đọc. Chính ở nơi đây, những cuốn sách nổi tiếng của các lãnh tụ vô sản thế giới như: Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Làm gì?, Những nguyên lý của chủ nghĩa Lênin, Tư bản… và nhiều sách báo của Quốc tế Cộng sản, của Đảng Cộng sản Pháp đã được dịch ra tiếng Việt để phục vụ việc học tập.

Một khu giam Nhà tù Côn Đảo
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã cùng với các đồng chí Đặng Việt Châu, Nguyễn Trọng Đàm chép lại bản “Luận cương chính trị” mà đồng chí đã thuộc lòng khi ở Nhà tù Hoả Lò để phục vụ việc học tập. Chính đồng chí Nguyễn Văn Cừ là người chuyên trách giảng văn kiện quan trọng đó của Đảng cho một số lớp huấn luyện nghiên cứu tác phẩm này tại Nhà tù Côn Đảo.
Năm 1936, do kết quả của phong trào đấu tranh của nhân dân ta, do thắng lợi của Mặt trận nhân dân Pháp và ảnh hưởng trực tiếp của cuộc đấu tranh của hơn 1000 tù nhân ở Côn Đảo. Ngày 29/9/1936, chính quyền thuộc địa Pháp phải trả lại quyền tự do cho hàng trăm chiến sĩ cộng sản, trong đó có đồng chí Nguyễn Văn Cừ, sau gần 6 năm bị thực dân Pháp giam giữ tại Nhà tù Hoả Lò, Côn Đảo.
Sau khi thoát khỏi Nhà tù Côn Đảo, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bắt liên lạc với Đảng và tiếp tục hoạt động cách mạng
Tháng 3/1937, tại Hà Nội, đã diễn ra một cuộc họp gồm các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Tú Hưu, Nguyễn Văn Minh, Lương Khánh Thiện, Đặng Xuân Khu, Tô Hiệu, Hạ Bá Cang, Đinh Xuân Nhạ thành lập Xứ uỷ lâm thời. Hội nghị đã cử đồng chí Lương Khánh Thiện làm Bí thư Xứ uỷ lâm thời Bắc kỳ, kiêm Bí thư Thành uỷ Hà Nội.
Tháng 8/1937, Xứ uỷ lâm thời Bắc Kỳ họp để chuẩn bị báo cáo và cử hai đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Hoàng Quốc Việt dự Hội nghị mở rộng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hóc Môn - Gia Định. Hội nghị đã bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Sau Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Cừ trở về Hà Nội và trực tiếp chỉ đạo phong trào ở các tỉnh phía Bắc.
Đầu năm 1938, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bí mật rời Hà Nội đến Sài Gòn dự Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại làng Tân Thới Nhất, gần Bà Điểm, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định từ ngày 29 đến ngày 30/8/1938
Ngày 30/8/1938, Hội nghị đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng bao gồm có 11 uỷ viên, trong đó có 9 uỷ viên trong nước và 2 uỷ viên hoạt động ở nước ngoài. Đồng chí Nguyễn Văn Cừ được tiếp tục cử vào Ban Thường vụ và được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đây, với cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, đồng chí Nguyễn Văn Cừ trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam.
Dựa vào tình hình thực tế lúc đó, nhận thấy tình hình quốc tế đang có những chuyển biến bất lợi cho cách mạng Việt Nam và Đông Dương, đồng chí Nguyễn Văn Cừ đã sớm đặt vấn đề chuyển hướng chiến lược của Đảng
Đặc biệt, chỉ hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, đồng chí đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6, trong đó xác định: Để tập trung mọi lực lượng của dân tộc vào chống đế quốc và ách thống trị của phát xít thuộc địa, Đảng sẽ tiến hành thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ không còn thích hợp nữa; phương pháp cách mạng cũng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và không hợp pháp, chuẩn bị điều kiện để tiến tới khởi nghĩa vũ trang.
Ngày 18/1/1940, trên đường từ nhà chị Hai Sóc ở làng Bà Điểm, nơi đồng chí Nguyễn Văn Cừ ở đến cơ quan Đảng ở đường Nguyễn Tấn Nghiêm (Sài Gòn), để bàn công tác với các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Văn Hiếu (tức Giáo Hoan), do bị lộ, đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị bắt cùng với hai đồng chí của mình. Toà án binh Sài Gòn lại buộc tội đồng chí Nguyễn Văn Cừ "có trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa" và kết án tử hình Nguyễn Văn Cừ.
Ngày 28/8/1941, đồng chí Nguyễn Văn Cừ - Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương đã bị thực dân Pháp đem đi xử bắn ở Ngã ba Giồng thuộc xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn. Hình ảnh hiên ngang ra pháp trường, những khẩu hiệu cách mạng mà đồng chí Nguyễn Văn Cừ hô vang trước lúc bị giặc Pháp xử bắn còn vang vọng mãi đến ngày hôm nay.
Tổng hợp và biên soạn: Dương Thanh Hùng, phòng Nghiên cứu - Sưu tầm



