Anh hùng Lực lượng vũ trang

TỔNG BÍ THƯ TRẦN PHÚ Người cộng sản kiên trung và ngọn đuốc “Chí khí chiến đấu”

Tây Ninh09/06/2026Nguyễn Thị yến Nhi (THCS Thị Trấn)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

TỔNG BÍ THƯ TRẦN PHÚ

Người cộng sản kiên trung và ngọn đuốc “Chí khí chiến đấu”

​Cuộc đời đồng chí Trần Phú là biểu tượng rực rỡ của thế hệ trí thức yêu nước dấn thân vì lý tưởng vô sản. Từ bản Luận cương đầu tiên đến lời dặn bất hủ trong lao tù, ông đã tạc vào lịch sử dân tộc một tượng đài về lòng trung kiên và tầm nhìn chiến lược cho cách mạng Việt Nam.

Hành trình từ người trí thức dấn thân đến vị Tổng Bí thư trẻ tuổi

​Trần Phú (1904 – 1931) sinh ra tại thành An Thổ, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên (nay thuộc xã An Dân, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên), nguyên quán của ông ở làng Đông Thái, xã An Đồng, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, phủ Đức Thọ, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh).

Thời gian dạy học ở Vinh, vốn có ảnh hưởng tinh thần dân tộc của cha, Trần Phú có những tiếp xúc đầu tiên với chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925, ông cùng một số bạn bè như Lê Văn Huân, Trần Đình Thanh, Ngô Đức Diễn, Tôn Quang Phiệt... thành lập Hội Phục Việt, sau đổi là Hội Hưng Nam, rồi lại đổi ra Việt Nam Cách mạng Đảng.

Năm 1926, với bí danh Lý Quý, Trần Phú đại diện Việt Nam Cách mạng Đảng sang Quảng Châu (Trung Quốc) bàn việc hợp nhất với Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Tại Quảng Châu, ông tham gia một số lớp huấn luyện về lý luận và chính trị, được kết nạp vào Cộng sản Đoàn, và được cử về nước hoạt động. Tháng 12 năm 1926, ông về đến Vinh, tham gia cải tổ Việt Nam Cách mạng Đảng theo đường lối và tổ chức của Việt Nam thanh niên cách mạng.

Một thời gian sau, ông bị lộ, được tổ chức bố trí sang Quảng Châu để hoạt động với bí danh Lý Viết Hoa. Mùa xuân năm 1927, Trần Phú được Nguyễn Ái Quốc cử sang học tại trường Đại học Đông Phương (Liên Xô) với bí danh Likvey. Tại đây, chi bộ những người Cộng sản Việt Nam được thành lập, ông được chỉ định làm bí thư chi bộ này.

Năm 1928, Trần Phú là đại biểu dự Đại hội VI Quốc tế Cộng sản. Khi đó, tại quê nhà, ngày 11 tháng 10 năm 1929, ông bị tòa án Nam triều ở Nghệ An xử án vắng mặt cùng với một số đồng chí của mình.

​Tháng 4/1930, Trần Phú về nước, được bổ sung vào Ban Chấp hành Trung ương Lâm thời và sau đó là Ban Thường vụ Trung ương. Ông được tin tưởng giao trọng trách dự thảo bản Luận cương Chính trị về vấn đề cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương. Tại Hội nghị tháng 10/1930 ở Hương Cảng, bản Luận cương được thông qua và Trần Phú chính thức được bầu làm Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng ở tuổi 26. Với bí danh Anh Năm, ông chủ trì Hội nghị Trung ương lần 2 (3/1931) tại Sài Gòn, đưa ra những nghị quyết quan trọng về tổ chức, tuyên truyền và đặc biệt là quyết định thành lập Cộng sản Thanh niên Đoàn – tiền thân của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày nay.

Khí tiết trong lao lý và những giai thoại bất tử.

​Ngay sau những cống hiến to lớn cho tổ chức, do sự phản bội của Ngô Đức Trì, ngày 18/4/1931, Trần Phú bị thực dân Pháp bắt giữ tại đường Champagne, Sài Gòn. Biết ông là lãnh đạo cốt cán, giặc dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ và tra tấn tàn khốc để khai thác thông tin nhưng đều thất bại trước ý chí sắt đá của ông. Ngày 6/9/1931, sau nhiều lần bị đày ải, ông qua đời tại Nhà thương Chợ Quán khi mới 27 tuổi. Trước lúc đi xa, ông để lại lời dặn dò bất hủ cho đồng đội:

“Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”.

Anh chị em tù chính trị ở khám lớn Sài Gòn năm 1931 đã làm thơ:

“Trần Phú anh ơi đã thác rồi

Thác mà như thế đẹp gương soi

Bao phen sóng gió đâu sờn dạ

Mấy trận đòn tra chẳng hở môi

Giọt máu anh hùng giờ tơi tả

Trái tim vô sản vẫn không rời

Tuy anh đã thác gương còn sáng

Thác được như anh sáng suốt đời”

​Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Trần Phú còn để lại dấu ấn trong văn hóa và biểu tượng cách mạng. Ông cùng Lê Hồng Phong được ghi nhận là người dịch lời bài Quốc tế ca (phiên bản đang sử dụng). Đặc biệt, trong những ngày lao tù, một giai thoại kể rằng ông đã cùng đồng chí thảo luận về quốc kỳ tương lai của nước Việt Nam độc lập: một lá cờ đỏ có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho sự đoàn kết của năm giới (Công, Nông, Binh, Trí, Thương) quanh Đảng. Chính ý tưởng này đã được các đồng chí của ông hiện thực hóa, giương cao trong cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 tại đình Long Hưng (Mỹ Thọ).

Hành trình trở về quê hương và sự trường tồn của một nhân cách.

​Sau khi ông hy sinh, thi hài của Tổng Bí thư Trần Phú được người thân bí mật chôn cất tại khuôn viên nghĩa trang Nhà thờ Họ đạo Chợ Quán (Cư xá Bắc Hải, Quận 10 ngày nay). Phải mãi đến ngày 4/1/1999, sau nhiều nỗ lực tìm kiếm, phần mộ của ông mới được phát hiện. Ngày 12/1/1999, hài cốt của ông được di dời trang trọng về an táng tại quê hương Tùng Ảnh, Đức Thọ, Hà Tĩnh.

​Ngôi mộ của vị Tổng Bí thư đầu tiên nay nằm tĩnh lặng trên ngọn đồi cao, phía trước khắc ghi dòng chữ vàng: “Hãy giữ vững chí khí chiến đấu”. Đó không chỉ là lời nhắn nhủ của quá khứ, mà còn là kim chỉ nam cho các thế hệ tương lai. Cuộc đời ngắn ngủi nhưng lừng lẫy của Trần Phú đã trở thành tấm gương soi cho muôn đời, chứng minh rằng giá trị của một con người không đo bằng chiều dài năm tháng, mà bằng độ sâu của lý tưởng và sự tận hiến cho dân tộc.

Người viết: Nguyễn Thị Yến Nhi

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn