TỔNG BÍ THƯ TRONG NHÀ TÙ
Hôm nay, đứng trước tấm gương ấy, chúng ta – thế hệ trẻ Chi đoàn ấp 6, xã Vị Thanh 1 – xin khắc sâu bài học: Cách mạng luôn đòi hỏi sự hy sinh và bản lĩnh. Trong hòa bình, bản lĩnh ấy là học tập, rèn luyện, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì cộng đồng. Ngọn lửa mà Nguyễn Văn Cừ và các anh hùng liệt sĩ đã nhóm lên bằng máu của mình vẫn đang cháy. Chúng ta xin nguyện tiếp nối ngọn lửa ấy, sống xứng đáng với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm! Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ!


ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ CẦN THƠ
CHI ĐOÀN ẤP 6, XÃ VỊ THANH 1
TỔNG BÍ THƯ TRONG NHÀ TÙ
Tác giả: Trần Chí Thanh – Bí thư Chi đoàn ấp 6
Những năm đầu thập niên 1940, bầu trời Đông Dương tối sầm dưới gót giày thực dân Pháp và phát xít Nhật. Phong trào cách mạng đang chuyển mình mạnh mẽ sau cao trào dân chủ 1936–1939. Địch càng khủng bố trắng, càng truy lùng quyết liệt những người cộng sản. Trong không khí ấy, một người thanh niên mới 28 tuổi – Nguyễn Văn Cừ – Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương – đã bước vào nhà tù với tư thế của người chiến sĩ sẵn sàng đối mặt cái chết.
Rạng sáng ngày 17 tháng 1 năm 1940, tại căn nhà số 312 đường Nguyễn Tấn Nghiệm (Sài Gòn), mật thám Pháp bất ngờ vây bắt. Nguyễn Văn Cừ cùng một số đồng chí bị đưa về bốt Catinat. Chúng tra tấn dã man, dụ dỗ, hứa hẹn đủ đường hòng moi bí mật của Đảng. Nhưng trước ý chí thép của người cộng sản, mọi thủ đoạn đều thất bại. Chúng đành đưa ông vào Khám Lớn Sài Gòn. Trong bốn bức tường lạnh lẽo, ẩm ướt, Nguyễn Văn Cừ không hề gục ngã. Ông tranh thủ từng phút giảng giải Nghị quyết Trung ương, củng cố tinh thần đồng chí, biến nhà tù thành trường học cách mạng – đúng như tinh thần mà ông và các chiến sĩ tiền bối đã thực hiện từ những năm ở Côn Đảo trước đó.
Cuộc đời Nguyễn Văn Cừ vốn đã gắn liền với nhà tù từ rất sớm. Sinh ngày 9 tháng 7 năm 1912 tại làng Phù Khê, phủ Từ Sơn, Bắc Ninh, hậu duệ đời thứ 17 của Nguyễn Trãi, ông sớm thấm nhuần truyền thống yêu nước. Năm 1931, khi đang hoạt động ở vùng mỏ, ông bị bắt, bị kết án và đày ra Côn Đảo. Sáu năm trong “địa ngục trần gian” không làm ông gãy gục mà tôi luyện thêm bản lĩnh. Ra tù năm 1936, ông lao ngay vào phong trào. Tháng 3 năm 1938, tại Hội nghị Trung ương, Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư khi mới 26 tuổi – Tổng Bí thư trẻ nhất trong lịch sử Đảng. Ông viết tác phẩm Tự chỉ trích, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối đúng đắn, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng. Ông chủ trì Hội nghị Trung ương tháng 11 năm 1939 tại Bà Điểm, quyết định chuyển hướng chiến lược, thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương – bước ngoặt quan trọng chuẩn bị cho cao trào giải phóng dân tộc sau này.
Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, địch càng điên cuồng. Tòa án binh Sài Gòn quy cho Nguyễn Văn Cừ tội “chịu trách nhiệm tinh thần” về cuộc khởi nghĩa, kết án tử hình. Sáng sớm ngày 28 tháng 8 năm 1941, tại trường bắn Ngã Ba Giồng, Hóc Môn, Nguyễn Văn Cừ cùng các đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần và nhiều chiến sĩ khác bị đưa ra pháp trường. Ông kiên quyết không để chúng bịt mắt. Trước họng súng, giọng ông vang lên dõng dạc những khẩu hiệu cách mạng: “Cách mạng Đông Dương thành công muôn năm!”. Viên đạn đã lấy đi sinh mạng của người Tổng Bí thư khi ông vừa tròn 29 tuổi. Nhưng tiếng hô ấy không tắt. Nó hòa vào máu thịt dân tộc, trở thành lời thề sống mãi.
Nguyễn Văn Cừ không để lại một bản di chúc dài dòng trên giấy. Di chúc của ông chính là cả cuộc đời ngắn ngủi mà chói sáng: 13 năm hoạt động cách mạng, 7 năm trong nhà tù đế quốc, hơn 2 năm giữ cương vị Tổng Bí thư. Đó là bản di chúc bằng hành động – kiên trung bất khuất trước kẻ thù, sáng suốt trong đường lối, mẫu mực trong đạo đức chí công vô tư. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhắc đến ông như một trong những tấm gương chói lọi của đạo đức cách mạng.
Hôm nay, đứng trước tấm gương ấy, chúng ta – thế hệ trẻ Chi đoàn ấp 6, xã Vị Thanh 1 – xin khắc sâu bài học: Cách mạng luôn đòi hỏi sự hy sinh và bản lĩnh. Trong hòa bình, bản lĩnh ấy là học tập, rèn luyện, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì cộng đồng. Ngọn lửa mà Nguyễn Văn Cừ và các anh hùng liệt sĩ đã nhóm lên bằng máu của mình vẫn đang cháy. Chúng ta xin nguyện tiếp nối ngọn lửa ấy, sống xứng đáng với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm!
Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ!



