Tổng Bí thư Trường Chinh - Người cộng sản mẫu mực, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam
Tổng Bí thư Trường Chinh (3 lần làm Tổng Bí thư) là nhà lãnh đạo tài năng của Đảng và cách mạng Việt Nam, người chiến sĩ cách mạng kiên cường, người cộng sản mẫu mực, trọn đời chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Một số hoạt động của đồng chí Trường Chinh trước năm 1941
Đồng chí Trường Chinh (1907-1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, bút danh Sóng Hồng, quê làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Năm 1925, tham gia hoạt động đòi thực dân Pháp ân xá cho Phan Bội Châu. Năm 1926, tham gia lãnh đạo cuộc bãi khóa của học sinh các trường Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh. Chỉ tính riêng Trường Thành Chung, 54 học sinh bị đuổi hẳn, trong đó có những người sau này trở thành những lãnh tụ kiệt xuất của cách mạng Việt Nam như Đặng Xuân Khu, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Tường Loan.
Năm 1927, đồng chí Đặng Xuân Khu gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí Đặng Xuân Khu cũng hoạt động trong Đội Tuyên truyền xung phong của Thành ủy Hà Nội gồm các đồng chí: Lê Đình Tuyển, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Giang Đức Cường... Đặng Xuân Khu (phụ trách sinh viên và binh lính).
Cuối năm 1930, đồng chí Đặng Xuân Khu bị thực dân Pháp bắt, giam ở Hỏa Lò sau đó bị đày đi nhà ngục Sơn La. Từ tháng 6 đến tháng 12-1930, Thành ủy Hà Nội phải lập lại ba lần. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Thành ủy, nhiều đảng viên và quần chúng trung kiên bị bắt: Nguyễn Ngọc Vũ, Lê Đình Tuyển, Đặng Xuân Khu, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Giang Đức Hang Ngọc Bảo.
Tại nhà tù Hỏa Lò, đồng chí Trần Quý Kiên đã cùng các đồng chí Trường Chinh, Trần Bảo, Bùi Vũ Trụ... cùng nhau làm báo (Lao tù đỏ sau đổi thành Lao tù tạp chí) bí mật trong tù để tuyên truyền và giữ vững khí phách cách mạng. Hồi ký Hạt máu của đồng chí Trần Bảo viết: “Anh Đặng Xuân Khu (Trường Chinh) vừa soạn bài, vừa viết sách dưới đó, tôi làm nhiệm vụ đứng gác bọn sếp ngục cho anh viết… Bản thảo viết ra được những tay chữ đẹp như Khôi, Trụ, Nhạ (Đinh Xuân Nhạ tức Trần Quý Kiên) Tuân chép lại…”.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Tháng 2-1933, đồng chí Đặng Xuân Khu bị đưa lên giam ở Nhà tù Sơn La. Tại đây, đồng chí Trường Chinh, Lê Duẩn, Trần Quý Kiên, Khuất Duy Tiến... đã bị coi là “cầm đầu” lãnh đạo, đấu tranh trong tù, bị Công sứ Sơn La liệt vào danh sách 22 kẻ cầm đầu, phản loạn, đích thực là cộng sản.
Tài liệu lưu trữ của mật thám Pháp có báo cáo của một tên chỉ điểm ở nhà tù Sơn La, ngày 26-1-1936, gửi cho Công sứ Sơn La viết: “Gần đây, bọn cộng sản đã tổ chức thành một chi bộ cộng sản...”. Ở mục “II- Tình hình tù nhân trong nhà tù Sơn La” và “1- Trong nhà tù có tổ chức 1 chi bộ cộng sản” gồm có: 1. Đặng Xuân Khu: số tù 439… 6. Nhạ (Đinh Xuân Nhạ tức Trần Quý Kiên): số tù 281”.
Cuối năm 1936, được trả tự do, đồng chí Đặng Xuân Khu hoạt động nửa hợp pháp ở Hà Nội. Tháng 3-1937, Xứ ủy Bắc Kỳ được thành lập do đồng chí Hoàng Tú Hưu làm Bí thư. Xứ ủy viên gồm các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Nguyễn Văn Minh, Tô Hiệu, Lương Khánh Thiện, Đinh Xuân Nhạ (Trần Quý Kiên), Đặng Xuân Khu (Trường Chinh). Đồng chí Đặng Xuân Khu phụ trách những hoạt động tuyên truyền công khai, nửa hợp pháp và hợp pháp, đặc biệt là chỉ đạo mặt trận văn hóa, báo chí, đồng thời làm một số công tác bí mật của Xứ ủy.
Cuối năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, ông chuyển vào hoạt động bí mật. Từ cuối tháng 9-1940, phát xít Nhật kéo quân vào chiếm Đông Dương. Trước tình hình ấy, từ ngày 6 đến 9-11-1940, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ bảy tại làng Đình Bảng (huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Tham dự hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Trần Đăng Ninh. Tại hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời được thành lập, bầu đồng chí Trường Chinh làm Quyền Tổng Bí thư.
"VẤN ĐỀ DÂN CÀY"
Từ năm 1938, Đặng Xuân Khu cùng với Võ Nguyên Giáp viết chung một tiểu luận nhỏ có tựa đề "Vấn đề dân cày", xác định vấn đề cần phải thực hiện cuộc "Cải cách ruộng đất" để có thể tái phân phối lại quyền sử dụng đất đai. Đây cũng là một trong những mục tiêu mà Việt Minh đặt ra và từ đó có được sự ủng hộ của số đông nông dân, vốn chỉ chiếm giữ một tỷ lệ rất nhỏ đất đai. Đường lối cải cách ruộng đất cũng được đưa ra trong Báo cáo chính trị của ông tại Đại hội II của Đảng năm 1951. Quan điểm của ông về cải cách ruộng đất tại bản Luận cương về cách mạng Việt Nam trình Đại hội II: ... Đối tượng của cách mạng dân chủ nhân dân và đặc biệt của chính sách cải cách ruộng đất là địa chủ. Nhưng lúc này, để tập trung lực lượng của toàn dân đánh bại kẻ thù chung là thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, và do chỗ nhận định trong từng lớp địa chủ nước ta còn khả năng phản đế một phần nào, Đảng chủ trương kéo một phần lớn địa chủ (tiểu và trung địa chủ) về phe kháng chiến hay ít nhất làm cho họ trung lập có thiện cảm đối với kháng chiến, đồng thời đánh đổ bọn đại địa chủ phong kiến phản động. Cho nên hiện thời, Đảng chủ trương thừa nhận cho những địa chủ không phản quốc có quyền công dân, quyền có của, không đụng đến quyền sở hữu ruộng đất của họ, và vẫn thừa nhận quyền hưởng công điền của họ. Ta có hạn chế sự bóc lột của họ bằng cách thực hiện giảm tô, giảm tức. Song, khi thi hành, cần phối hợp việc hành chính ra lệnh, quần chúng đòi hỏi, với việc thuyết phục, giải thích, nhưng chủ yếu là thuyết phục, giải thích cho địa chủ hiểu rằng họ giảm tô, giảm tức là làm một phần nghĩa vụ của họ đối với kháng chiến. Khi họ đã giảm, ta bảo đảm cho họ quyền thu địa tô đúng luật. Chính sách của ta hiện nay là: địa chủ phải giảm tô đúng luật, tá điền phải nộp tô đúng giao kèo. Mặt khác, ta vận động họ hiến ruộng cho Nhà nước, mở một con đường tiến bộ cho những địa chủ sáng suốt muốn tự cải tạo. Đồng thời ta khuyến khích họ bỏ vốn vào việc kinh doanh công thương nghiệp.
Năm 1953, giữa lúc Quân đội nhân dân Việt Nam bắt đầu chiếm ưu thế trên chiến trường, Trường Chinh được cử làm Trưởng ban cải cách ruộng đất Trung ương. Cuộc cải cách ban đầu có những kết quả nhất định khi chỉ thực hiện việc tịch thu tài sản, đất đai của những người bị xem là "phản quốc" (theo Pháp, chống lại đất nước), "phản động" (chống lại chính quyền) và chia cho bần nông, cố nông. Tuy nhiên, sau khi nắm được quyền kiểm soát miền Bắc, dưới áp lực của các cố vấn Trung Quốc, cuối năm 1954, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt đầu được đẩy mạnh và nhanh, với cường độ lớn. Từ giữa năm 1955 ở một số nơi đã xuất hiện hiện tượng đấu tố tràn lan, mất kiểm soát. Nhiều người bị quy tội sơ sài là "địa chủ, tư sản bóc lột", nhiều trường hợp lạm quyền của các cán bộ đội viên đội công tác ruộng đất trong công tác đất đai, dẫn đến trả thù cá nhân, thậm chí bùng phát bạo lực. Tuy không trực tiếp thực hiện, nhưng là người lãnh đạo cao nhất của Cải cách ruộng đất, Trường Chinh phải gánh trách nhiệm nặng nhất. Tại Hội nghị trung ương 10 khóa II mở rộng từ 25 tháng 8 đến 5 tháng 10 năm 1956 về vấn đề sửa sai cải cách ruộng đất, ông từ chức Tổng Bí thư. Sau đó ông đứng đầu Ban chỉ đạo công tác sửa sai, cho đến năm 1958.


