saoden Thành viên  Bài viết: 1096  | 
| Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970« Trả lời #2 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2023, 02:23:54 pm » | PHẦN MỘT NGUỒN GỐC, TÍNH CHẤT CỦA THỔ PHỈ
I- NGUỒN GỐC CỦA THỔ PHỈ Ở LÀO CAI
Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, số dân toàn tỉnh có 75.644 người, bao gồm 15 dân tộc, trong đó dân tộc H’mông chiếm 38,14% tập trung ở 4 huyện Bắc Hà, Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương; dân tộc Dao chiếm 18,8%; dân tộc Thổ chiếm 12,3%; dân tộc Dáy chiếm 10,7%; dân tộc Nùng chiếm 10%, số còn lại là các dân tộc khác. Do tập quán sinh hoạt và sản xuất khác nhau nên người H’mông thường ở rẻo cao; người Dao, người Tu Dí, U Ní, Xa Phó, Thu Lao ở những triền núi trung bình; người Thổ (Tày), người Dáy ở vùng thấp; người Hoa ở thị xã, thị trấn để buôn bán; người Kinh ở những nơi có ruộng lúa nước... Nhưng các dân tộc ở Lào Cai đều ở thành từng bản, từng chòm xóm riêng.
Dưới thời Pháp thuộc tình hình xã hội Lào Cai mang tính chất một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trình độ dân trí các dân tộc nói chung còn thấp kém, hầu hết đồng bào các dân tộc không biết chữ phổ thông; trình độ sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc lại bị đế quốc phong kiến bóc lột thậm tệ. Bên cạnh việc sử dụng chính sách bóc lột của chủ nghĩa tư bản, thực dân Pháp còn duy trì nguyên vẹn các hình thức bóc lột của chế độ phong kiến miền núi. Khác với các tỉnh miền xuôi, vùng cao biên giới ở Lào Cai còn có chế độ thổ ty rất tàn bạo; thổ ty cầm đầu các dân tộc, dòng họ ở vùng nào được coi như thủ lĩnh của vùng ấy. Chúng kiểm soát cát cứ, chiếm đoạt tài nguyên và nắm toàn bộ vận mệnh của mọi người dân sống ở đó. Người lao động bị đối xử như những nông nô thời chiếm hữu nô lệ. Khi tái chiếm Lào Cai, thực dân Pháp vẫn duy trì chính sách muôn thuở là chia để trị và "dùng người Việt trị người Việt". Để duy trì chế độ cai trị thuộc địa, thực dân Pháp đã nắm lấy đội ngủ thổ ty. Trừ một vài thổ ty nhỏ được cách mạng cảm hóa, số còn lại hầu hết là bọn tay sai rất lợi hại của thực dân Pháp. Chúng chọn những thổ ty lớn có thế lực, trung thành với tư tưởng phản động trao cho các chức dịch ngụy quyền như: tỉnh trưởng xứ Thái là thổ ty Đèo Văn Ân, tỉnh trưởng xứ Nùng là thổ ty Nông Vĩnh An, tỉnh phó là thổ ty La Văn Đức. Mọi chức vụ châu úy, lý trưởng, tổng đoàn cũng đều giao cho các thổ ty. Vốn là thủ lĩnh, thổ ty đều có tổ chức vũ trang để đàn áp, cướp đoạt. Được bọn đế quốc, phát xít đỡ đầu, dung túng nên lực lượng vũ trang của thổ ty rất mạnh. Các thổ ty lớn ở Bắc Hà, Mường Khương, Pha Long có lúc đã có tới hàng ngàn quân, trang bị vũ khí bộ binh đủ loại và cả phương tiện thông tin để liên lạc với Pháp.
Thổ ty Lào Cai còn được đế quốc Pháp ban cho nhiều đặc quyền đặc lợi: tự do buôn bán với Pháp, độc quyền buôn bán muối, thuốc phiện và thầu sòng bạc. Giữa các thổ ty cũng có sự cạnh tranh quyết liệt, mâu thuẫn dân tộc dòng họ thường xuyên xảy ra. Điển hình là vụ năm 1945, Sề Cồ Tìn, một thổ ty lớn ở Bát Xát đã cấp súng cho dân tộc U Ní (Ý Tý) để cướp của, đốt nhà, bân giết người H'mông ở Mường Hum. Ở Bắc Hà hai tên Giàng Cổ Hòa và Hản Sào Lùng đã gây ra vụ chém giết giữa người H’mông và người Xá làm hơn 1.000 người Xá bị tàn sát. Tính mạng đồng bào các dân tộc khác cũng luôn bị đe dọa; đời sống người lao động nheo nhóc đến cùng cực, những thứ tối thiểu phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của nhân dân vùng cao như muối và thuốc lào lại vô cùng thiếu thốn. Nhiều gia đình đã đói cơm lại nhạt muối, phải đốt cỏ tranh lấy tro để ăn thay muối. Lợi dụng những khó khăn ấy, đế quốc Pháp và tay sai đã dùng muối, thuốc lào để mua chuộc dụ dỗ đồng bào các dân tộc. Khi quá khan hiếm, chúng còn tung muối và thuốc lào ra làm vật treo giải thưởng cho những ai cắt được đầu cán bộ Việt Minh.
Sau khi bị Nhật đảo chính, đế quốc Pháp đã sử dụng phái đoàn 5 cục tình báo và phản gián chiến lược1 (Phái đoàn 5 được chính phủ lưu vong Đờ Gôn Pháp lập ra năm 1943, là một bộ phận của phân cục viễn đông Tổng cục nghiên cứu và tìm hiểu, viết tắt là DGER. Khóa 49 của DGER đổi thành GCMA, chuyên trách gây phỉ) ở Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) về Việt Nam móc nối chuẩn bị địa bàn phục vụ cho âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Trên hướng Lào Cai, từ năm 1945 đến năm 1947 phái đoàn 5 đã lập đước 3 tuyến tình báo thâm nhập vào các huyện Phong Thổ, Bát Xát và thị xã Lào Cai; chiếm một phần ba tổng số tuyến tình báo đường bộ trên dọc tuyến biên giới Việt - Trung; nối được liên lạc với tất cả các thổ ty, hình thành sự câu kết có tổ chức giữa gián điệp Pháp với đặc vụ Tưởng Giới Thạch và thổ ty phản động.
Cách mạng Tháng Tám thành công, quân Nhật bị bại trận, quân Tưởng Giới Thạch với tư cách một thành viên của phe Đồng minh vào giải giáp quân Nhât. Theo gót quân đội Tưởng là bọn Việt Nam quốc dân đảng chống lại chính thể nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lợi dụng tình hình Lào Cai gặp nhiều khó khăn, cơ sở cách mạng còn mỏng yếu, phái đoàn 5 đã tranh thủ cung cấp tiền của, vũ khí để bọn thổ ty La Văn Đức, Nông Vĩnh An củng cố xây dựng lực lượng vũ trang riêng, tăng cường quản lý cát cứ chờ quân Pháp trở lại. Những năm 1945-1947 ta thực hiện sách lược tranh thủ lôi kéo thổ ty để xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân thì các thổ ty lớn như Nông Vĩnh An không ra. Số khác như Nông Vĩnh Xương, Lồ Vạn Phù, Hoàng A Tưởng, Châu Quang Lồ tuy chấp nhận tham gia chính quyền cấp tỉnh của ta, nhưng đến năm 1947 lúc thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc rồi từ Lai Châu, Phong Thổ đánh sang Lào Cai thì các thổ ty ấy đã ráo riết bắt liên lạc với Pháp, ra sức phản đối chính sách của ta, buộc ta phải phân tán để đối phó, đồng thời chúng bỏ hẳn các vị trí chính quyền, trở về cát cứ như cũ chuẩn bị lực lượng vũ trang chống lại ta. Thời kỳ này chúng đã gây cho ta nhiều thiệt hại, tạo điều kiện thuận lợi căn bản cho quân đội Pháp nhanh chóng tái chiếm Lào Cai.
Năm 1949, khi ta chuyển mạnh sang tổng phản công, các chiến dịch tiến công vào Lào Cai đã làm cho quân đội viễn chinh Pháp bị hoang mang cực độ, nhiều cứ điểm, đồn bốt bị phá vỡ nhưng quân Pháp còn trụ lại được là nhờ có lực lượng thổ ty trung thành với chúng. Lực lượng vũ trang của thổ ty đã trở thành đội quân phản động nhất trong khối ngụy quân của Pháp. Nhiều tên chỉ huy lực lượng thổ ty đã trở thành sĩ quan ngụy như Lý Triều Dương, Châu Quang Lồ, Pò Lem, xếp Chảo... Bọn này khủng bố đàn áp dã man phong trào nhân dân chống Pháp, gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta trong vùng tạm bị địch chiếm đóng.
Như vậy trong quá trình chiếm đóng Lào Cai thực dân Pháp đã khai thác triệt để những đặc điểm xã hội chính trị của một vùng miền núi, biên giới, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức và đời sống thấp kém, lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi các quan niệm cổ hủ (tự ty, tôn sùng những người đứng đầu dòng họ, thủ lĩnh dân tộc) để xây dựng nên mối quan hệ bóc lột giữa tư bản Pháp với bọn thổ ty phong kiến, biến những tên thổ ty được coi như tầng lớp trên của xã hội miền núi thành những tên tay sai đắc lực phục vụ cho mục đích cai trị của chúng. Đặc biệt sau khi tái chiếm Lào Cai thì mối quan hệ đó càng bộc lộ rõ bản chất phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Khi thấy rõ thế thua phải rút khỏi biên giới Việt - Trung, thực dân Pháp cấp tốc chuyển chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt trị người Việt". Ngày 13 tháng 12 năm 1949, chỉ huy khu Tây Bắc đã ra mệnh lệnh số 2286/SANO/3 giao nhiệm vụ cho phân khu Lào Cai phải tìm mọi cách "tổ chức các đơn vị lính dõng và dân chúng võ trang ở lại đánh du kích tại chỗ"1 (Theo Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Lào Cai, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 194) nhằm quấy rối hậu phương, ngăn cản, hạn chế các đơn vị bộ đội chủ lực của ta tiến công, tạo điều kiện cho quân Pháp rút lui an toàn.
Thực hiện ý đồ đó, từ đầu năm 1950 phân khu Lào Cai ra sức dụ dỗ mua chuộc tuyển mộ lính địa phương tăng cường củng cố khối ngụy quân, ngụy quyền, mở các đợt càn quét vào những vùng có cơ sở của ta để củng cố tinh thần cho binh lính. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động đặc vụ, gián điệp dọc tuyến biên giới Việt - Trung, gây rối phá hoại hậu phương của ta.
Ngày 18 tháng 10 năm 1950 tên đại úy Ba - danh, chỉ huy tiểu khu Mường Khương đã đề ra kế hoạch gồm 2 điểm: tuyển về Hà Nội 400 ngụy binh huấn luyện thành lực lượng biệt kích để trở lại tái chiếm Lào Cai; tổ chức các ổ đề kháng ở vùng mới giải phóng (Hoàng Su Phì, Bắc Hà và vùng sẽ được giải phóng như Mường Khương, Pha Long).
Ngày 25 tháng 10 năm 1950 Ba - danh lại ra lệnh cho tàn quân ngụy ở Hoàng Su Phì nổi loạn và giao lại vùng Pha Long - Mường Khương cho tên Châu Quang Lồ chỉ huy 2 đại đội bảo an số 46, 47 ở lại chống ta, còn lực lượng chủ lực của Pháp rút lui khỏi vùng này. Từ đây, việc gây phỉ của thực dân Pháp đã bắt đầu được thực hiện. Chỉ trong 4 tháng (từ 25-10-1950 đến 29-1-1951) ở 3 huyện biên giới Việt - Trung là Hoàng Su Phi (Hà Giang), Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), lực lượng phỉ đã phát triển tới 2.500 tên1 (Theo báo cáo của mặt trận Lê Hồng Phong số 447/TM ngày 29 tháng 1 năm 1951: Hoàng Su Phì có 800 tên, Bắc Hà có 300 tên, Mường Khương có 700 tên, tàn quân Tưởng có 400 tên (Hoàng Su Phi có 300 tên)) có trang bị vũ khí từ moóc-chi-ê 81, moóc-chi-ê 61, đại liên, tiểu liên và súng trường theo biên chế trang bị của quân đội Pháp. |