Khác

Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970

Chiến dịch Biên Giới cuối năm 1950 thắng lợi, cả một vùng rộng lớn từ Lạng Sơn đến Lào Cai hoàn toàn được giải phóng. Đế quốc Pháp trở nên lúng túng, lún sâu vào thế bị động. Để cứu vãn tình thế, chúng đẩy mạnh việc thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt trị người Việt". Một trong những biện pháp thâm độc xảo quyệt mà chủ ngnĩa thực dân áp dụng là cấu kết với đế quốc Mỹ và bọn phản động trong các dân tộc gây phỉ ở vùng cao biên giới, nơi có địa thế hiểm trở, nhận

Lai Châu02/07/2026Quân đội nhân dân (xã Sìn hồ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Trong bối cảnh đó, với ý chí thiết tha vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống thanh bình, ấm no hạnh phúc của nhân dân, quân và dân tỉnh Lào Gai đã kiên cường, anh dũng, bền bỉ, sáng tạo phối hợp với bộ đội chủ lực tiếp tục cuộc chiến đấu tiễu phỉ phá tan âm mưu của đế quốc và giải quyết hậu quả vấn đề thổ phỉ trong suốt 20 năm. Đó là cuộc chiến dấu dai dẳng đầy gian khổ hy sinh, nhưng điều quan trọng là ta đã biết khắc phục khó khăn, thiếu sót nghiên cứu tìm ra những vấn đề có tính bản chất của đối tượng tác chiến với loại hình chiến thuât mới; đồng thời chọn phương pháp, cách đánh phù hợp để giành thắng lợi. Nhiều kinh nghiệm quý đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.


Thực hiện chỉ thị của Tư lệnh Quân khu 2 và chủ trương của Thường vụ Tỉnh ủy, Đảng ủy quân sự tỉnh tổ chức nghiên cứu đề tài: "Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970". Cuốn sách được biên soạn một cách có hệ thống về nguồn gốc tính chất của thổ phỉ; những vấn đề cơ bản trong quá trình tiễu phỉ và những bài học kinh nghiệm nhằm bổ sung vào kho tàng lý luận quân sự của Đảng và quân đội. Với tinh thần lấy xưa nghiệm nay, cuốn "Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970" sẽ giúp chúng ta có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn, để vận dụng vào công cuộc bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là chống chiến lược "diễn biến hòa bình" bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thủ địch.


Cuốn "Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970" hoàn thành trong dịp kỷ niệm 49 năm ngày giải phóng Lào Cai (1-11-1950 - 1-11-1999), 55 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 10 năm ngày hội Quốc phòng toàn dân uà tiến tới kỷ niệm Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh tròn 70 tuổi vào ngày 3 tháng 2 năm 2000. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Bộ tư lệnh Quân khu 2; Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Ban tổng kết - lịch sử Bộ Tổng tham mưu; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Lào Cai; Ban Tuyên giáo tỉnh ủy, Sở Khoa học Công nghệ Môi trường tỉnh Lào Cai; Phòng Khoa học Công nghệ Môi trưởng Quân khu 2 và các tướng lĩnh, các đồng chí lão thành cách mạng. Cảm ơn Nhà xuất bản Quân đội nhân dân đã tạo điều kiện để cuốn "Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970" ra mắt bạn đọc theo đúng kế hoạch.


Công tác tiễu phỉ trên địa bàn Lào Cai đã cách đây gần nửa thế kỷ. Các tài liệu lưu trữ cũng bị thất thoát do bảo quản, vì vậy công tác nghiên cứu tổng kết khó tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn dọc để hoàn thiện cuốn sách trong lần xuất bản sau.


Xin trân trọng giới thiệu cuốn "Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970" cùng bạn đọc.


Lào Cai, ngày 30 tháng 10 năm 1999
ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG
BÍ THƯ TỈNH ỦY
BÍ THƯ ĐẢNG ỦY QUÂN SỰ TỈNH LÀO CAI
TRÁNG A PAO

Logged

saoden

Thành viên
*
Bài viết: 1096


Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970« Trả lời #2 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2023, 02:23:54 pm »
PHẦN MỘT
NGUỒN GỐC, TÍNH CHẤT CỦA THỔ PHỈ


I- NGUỒN GỐC CỦA THỔ PHỈ Ở LÀO CAI

Lào Cai là một tỉnh miền núi biên giới, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, số dân toàn tỉnh có 75.644 người, bao gồm 15 dân tộc, trong đó dân tộc H’mông chiếm 38,14% tập trung ở 4 huyện Bắc Hà, Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương; dân tộc Dao chiếm 18,8%; dân tộc Thổ chiếm 12,3%; dân tộc Dáy chiếm 10,7%; dân tộc Nùng chiếm 10%, số còn lại là các dân tộc khác. Do tập quán sinh hoạt và sản xuất khác nhau nên người H’mông thường ở rẻo cao; người Dao, người Tu Dí, U Ní, Xa Phó, Thu Lao ở những triền núi trung bình; người Thổ (Tày), người Dáy ở vùng thấp; người Hoa ở thị xã, thị trấn để buôn bán; người Kinh ở những nơi có ruộng lúa nước... Nhưng các dân tộc ở Lào Cai đều ở thành từng bản, từng chòm xóm riêng.


Dưới thời Pháp thuộc tình hình xã hội Lào Cai mang tính chất một xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Trình độ dân trí các dân tộc nói chung còn thấp kém, hầu hết đồng bào các dân tộc không biết chữ phổ thông; trình độ sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở nền sản xuất tự nhiên, tự cấp, tự túc lại bị đế quốc phong kiến bóc lột thậm tệ. Bên cạnh việc sử dụng chính sách bóc lột của chủ nghĩa tư bản, thực dân Pháp còn duy trì nguyên vẹn các hình thức bóc lột của chế độ phong kiến miền núi. Khác với các tỉnh miền xuôi, vùng cao biên giới ở Lào Cai còn có chế độ thổ ty rất tàn bạo; thổ ty cầm đầu các dân tộc, dòng họ ở vùng nào được coi như thủ lĩnh của vùng ấy. Chúng kiểm soát cát cứ, chiếm đoạt tài nguyên và nắm toàn bộ vận mệnh của mọi người dân sống ở đó. Người lao động bị đối xử như những nông nô thời chiếm hữu nô lệ. Khi tái chiếm Lào Cai, thực dân Pháp vẫn duy trì chính sách muôn thuở là chia để trị và "dùng người Việt trị người Việt". Để duy trì chế độ cai trị thuộc địa, thực dân Pháp đã nắm lấy đội ngủ thổ ty. Trừ một vài thổ ty nhỏ được cách mạng cảm hóa, số còn lại hầu hết là bọn tay sai rất lợi hại của thực dân Pháp. Chúng chọn những thổ ty lớn có thế lực, trung thành với tư tưởng phản động trao cho các chức dịch ngụy quyền như: tỉnh trưởng xứ Thái là thổ ty Đèo Văn Ân, tỉnh trưởng xứ Nùng là thổ ty Nông Vĩnh An, tỉnh phó là thổ ty La Văn Đức. Mọi chức vụ châu úy, lý trưởng, tổng đoàn cũng đều giao cho các thổ ty. Vốn là thủ lĩnh, thổ ty đều có tổ chức vũ trang để đàn áp, cướp đoạt. Được bọn đế quốc, phát xít đỡ đầu, dung túng nên lực lượng vũ trang của thổ ty rất mạnh. Các thổ ty lớn ở Bắc Hà, Mường Khương, Pha Long có lúc đã có tới hàng ngàn quân, trang bị vũ khí bộ binh đủ loại và cả phương tiện thông tin để liên lạc với Pháp.


Thổ ty Lào Cai còn được đế quốc Pháp ban cho nhiều đặc quyền đặc lợi: tự do buôn bán với Pháp, độc quyền buôn bán muối, thuốc phiện và thầu sòng bạc. Giữa các thổ ty cũng có sự cạnh tranh quyết liệt, mâu thuẫn dân tộc dòng họ thường xuyên xảy ra. Điển hình là vụ năm 1945, Sề Cồ Tìn, một thổ ty lớn ở Bát Xát đã cấp súng cho dân tộc U Ní (Ý Tý) để cướp của, đốt nhà, bân giết người H'mông ở Mường Hum. Ở Bắc Hà hai tên Giàng Cổ Hòa và Hản Sào Lùng đã gây ra vụ chém giết giữa người H’mông và người Xá làm hơn 1.000 người Xá bị tàn sát. Tính mạng đồng bào các dân tộc khác cũng luôn bị đe dọa; đời sống người lao động nheo nhóc đến cùng cực, những thứ tối thiểu phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của nhân dân vùng cao như muối và thuốc lào lại vô cùng thiếu thốn. Nhiều gia đình đã đói cơm lại nhạt muối, phải đốt cỏ tranh lấy tro để ăn thay muối. Lợi dụng những khó khăn ấy, đế quốc Pháp và tay sai đã dùng muối, thuốc lào để mua chuộc dụ dỗ đồng bào các dân tộc. Khi quá khan hiếm, chúng còn tung muối và thuốc lào ra làm vật treo giải thưởng cho những ai cắt được đầu cán bộ Việt Minh.


Sau khi bị Nhật đảo chính, đế quốc Pháp đã sử dụng phái đoàn 5 cục tình báo và phản gián chiến lược1 (Phái đoàn 5 được chính phủ lưu vong Đờ Gôn Pháp lập ra năm 1943, là một bộ phận của phân cục viễn đông Tổng cục nghiên cứu và tìm hiểu, viết tắt là DGER. Khóa 49 của DGER đổi thành GCMA, chuyên trách gây phỉ) ở Côn Minh (Vân Nam - Trung Quốc) về Việt Nam móc nối chuẩn bị địa bàn phục vụ cho âm mưu trở lại xâm lược nước ta. Trên hướng Lào Cai, từ năm 1945 đến năm 1947 phái đoàn 5 đã lập đước 3 tuyến tình báo thâm nhập vào các huyện Phong Thổ, Bát Xát và thị xã Lào Cai; chiếm một phần ba tổng số tuyến tình báo đường bộ trên dọc tuyến biên giới Việt - Trung; nối được liên lạc với tất cả các thổ ty, hình thành sự câu kết có tổ chức giữa gián điệp Pháp với đặc vụ Tưởng Giới Thạch và thổ ty phản động.


Cách mạng Tháng Tám thành công, quân Nhật bị bại trận, quân Tưởng Giới Thạch với tư cách một thành viên của phe Đồng minh vào giải giáp quân Nhât. Theo gót quân đội Tưởng là bọn Việt Nam quốc dân đảng chống lại chính thể nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Lợi dụng tình hình Lào Cai gặp nhiều khó khăn, cơ sở cách mạng còn mỏng yếu, phái đoàn 5 đã tranh thủ cung cấp tiền của, vũ khí để bọn thổ ty La Văn Đức, Nông Vĩnh An củng cố xây dựng lực lượng vũ trang riêng, tăng cường quản lý cát cứ chờ quân Pháp trở lại. Những năm 1945-1947 ta thực hiện sách lược tranh thủ lôi kéo thổ ty để xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân thì các thổ ty lớn như Nông Vĩnh An không ra. Số khác như Nông Vĩnh Xương, Lồ Vạn Phù, Hoàng A Tưởng, Châu Quang Lồ tuy chấp nhận tham gia chính quyền cấp tỉnh của ta, nhưng đến năm 1947 lúc thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc rồi từ Lai Châu, Phong Thổ đánh sang Lào Cai thì các thổ ty ấy đã ráo riết bắt liên lạc với Pháp, ra sức phản đối chính sách của ta, buộc ta phải phân tán để đối phó, đồng thời chúng bỏ hẳn các vị trí chính quyền, trở về cát cứ như cũ chuẩn bị lực lượng vũ trang chống lại ta. Thời kỳ này chúng đã gây cho ta nhiều thiệt hại, tạo điều kiện thuận lợi căn bản cho quân đội Pháp nhanh chóng tái chiếm Lào Cai.


Năm 1949, khi ta chuyển mạnh sang tổng phản công, các chiến dịch tiến công vào Lào Cai đã làm cho quân đội viễn chinh Pháp bị hoang mang cực độ, nhiều cứ điểm, đồn bốt bị phá vỡ nhưng quân Pháp còn trụ lại được là nhờ có lực lượng thổ ty trung thành với chúng. Lực lượng vũ trang của thổ ty đã trở thành đội quân phản động nhất trong khối ngụy quân của Pháp. Nhiều tên chỉ huy lực lượng thổ ty đã trở thành sĩ quan ngụy như Lý Triều Dương, Châu Quang Lồ, Pò Lem, xếp Chảo... Bọn này khủng bố đàn áp dã man phong trào nhân dân chống Pháp, gây nhiều tội ác đối với đồng bào ta trong vùng tạm bị địch chiếm đóng.


Như vậy trong quá trình chiếm đóng Lào Cai thực dân Pháp đã khai thác triệt để những đặc điểm xã hội chính trị của một vùng miền núi, biên giới, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ nhận thức và đời sống thấp kém, lại bị ảnh hưởng nặng nề bởi các quan niệm cổ hủ (tự ty, tôn sùng những người đứng đầu dòng họ, thủ lĩnh dân tộc) để xây dựng nên mối quan hệ bóc lột giữa tư bản Pháp với bọn thổ ty phong kiến, biến những tên thổ ty được coi như tầng lớp trên của xã hội miền núi thành những tên tay sai đắc lực phục vụ cho mục đích cai trị của chúng. Đặc biệt sau khi tái chiếm Lào Cai thì mối quan hệ đó càng bộc lộ rõ bản chất phản động nhằm chống lại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.


Khi thấy rõ thế thua phải rút khỏi biên giới Việt - Trung, thực dân Pháp cấp tốc chuyển chiến lược từ "đánh nhanh thắng nhanh" sang "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh", "dùng người Việt trị người Việt". Ngày 13 tháng 12 năm 1949, chỉ huy khu Tây Bắc đã ra mệnh lệnh số 2286/SANO/3 giao nhiệm vụ cho phân khu Lào Cai phải tìm mọi cách "tổ chức các đơn vị lính dõng và dân chúng võ trang ở lại đánh du kích tại chỗ"1 (Theo Lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân Lào Cai, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1998, tr. 194) nhằm quấy rối hậu phương, ngăn cản, hạn chế các đơn vị bộ đội chủ lực của ta tiến công, tạo điều kiện cho quân Pháp rút lui an toàn.


Thực hiện ý đồ đó, từ đầu năm 1950 phân khu Lào Cai ra sức dụ dỗ mua chuộc tuyển mộ lính địa phương tăng cường củng cố khối ngụy quân, ngụy quyền, mở các đợt càn quét vào những vùng có cơ sở của ta để củng cố tinh thần cho binh lính. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động đặc vụ, gián điệp dọc tuyến biên giới Việt - Trung, gây rối phá hoại hậu phương của ta.


Ngày 18 tháng 10 năm 1950 tên đại úy Ba - danh, chỉ huy tiểu khu Mường Khương đã đề ra kế hoạch gồm 2 điểm: tuyển về Hà Nội 400 ngụy binh huấn luyện thành lực lượng biệt kích để trở lại tái chiếm Lào Cai; tổ chức các ổ đề kháng ở vùng mới giải phóng (Hoàng Su Phì, Bắc Hà và vùng sẽ được giải phóng như Mường Khương, Pha Long).


Ngày 25 tháng 10 năm 1950 Ba - danh lại ra lệnh cho tàn quân ngụy ở Hoàng Su Phì nổi loạn và giao lại vùng Pha Long - Mường Khương cho tên Châu Quang Lồ chỉ huy 2 đại đội bảo an số 46, 47 ở lại chống ta, còn lực lượng chủ lực của Pháp rút lui khỏi vùng này. Từ đây, việc gây phỉ của thực dân Pháp đã bắt đầu được thực hiện. Chỉ trong 4 tháng (từ 25-10-1950 đến 29-1-1951) ở 3 huyện biên giới Việt - Trung là Hoàng Su Phi (Hà Giang), Bắc Hà, Mường Khương (Lào Cai), lực lượng phỉ đã phát triển tới 2.500 tên1 (Theo báo cáo của mặt trận Lê Hồng Phong số 447/TM ngày 29 tháng 1 năm 1951: Hoàng Su Phì có 800 tên, Bắc Hà có 300 tên, Mường Khương có 700 tên, tàn quân Tưởng có 400 tên (Hoàng Su Phi có 300 tên)) có trang bị vũ khí từ moóc-chi-ê 81, moóc-chi-ê 61, đại liên, tiểu liên và súng trường theo biên chế trang bị của quân đội Pháp.

Logged

saoden

Thành viên
*
Bài viết: 1096


Tổng kết công tác tiễu phỉ trên địa bàn tỉnh Lào Cai 1950-1970« Trả lời #3 vào lúc: 28 Tháng Hai, 2023, 02:24:47 pm »
Thời gian này thổ phỉ liên tục tiến công, đánh úp gây cho các đơn vị chủ lực của ta nhiều khó khăn tổn thất. Thấy vậy, tướng Đờ Lát đờ Tát-xi-nhi, tổng chỉ huy quân Pháp đã nâng hoạt động của thổ phỉ thành một trong bốn nhiệm vụ chiến lược để giành lại quyền chủ động đã mất là: phá hoại các vùng tự do bằng biệt kích, thổ phỉ; máy bay oanh tạc; chiến tranh tâm lý, bao vây kinh tế2 (Theo Lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 1, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1994, tr. 312). Tháng 5 năm 1951 đế quốc Pháp đã chuyển khóa 49 (tình báo, phá hoại) của phân cục viễn đông SDECE thành GCMA (đội biệt kích hỗn hợp nhảy dù) chuyên trách gây phỉ, phá hoại hậu phương của ta.


Ngày 3 tháng 5 năm 1952 GCMA đã thả xuống Pha Long 16 tên biệt kích đặc vụ làm cố vấn cho Châu Quang Lồ xây dựng 2 trung đoàn phỉ ở tỉnh Nùng và lập các tổ đặc vụ hoạt động sâu vào nội địa Trung Quốc. Đặc biệt từ khi hội đồng an ninh quốc gia Mỹ quyết định sử dụng tàn quân Tưởng vào việc phá hoại đường viện trợ quốc tế của ta và quấy rối Trung Quốc1 (Theo lời cung của tên Phơ-răng-xoa, chỉ huy biệt kích nhảy xuống Mèo Vạc bị bắt tháng 7 năm 1952) thì GCMA và đặc vụ Tưởng có sự phối hợp gây phỉ ngày càng chặt chẽ. Thời gian này Pháp - Mỹ - Tưởng đã câu kết gây nên vụ phỉ lớn dọc biên giới Việt - Trung từ Mường Khương (Lào Cai) đến Đồng Văn (Hà Giang). Sau đó ta đã phải tốn rất nhiều công sức phối hợp với Sư đoàn 302 Giải phóng quân Trung Quốc giải quyết gần một năm ròng mới đánh tan được lực lượng phỉ ở vùng này. Năm 1953 đế quốc Pháp lại tiếp tục gây nên vụ phỉ ở các huyện miền tây Lào Cai. Ngày 25 tháng 12 năm 1953, tướng Na-va, người kế nghiệp tổng chỉ huy quân đội Pháp đã tuyên bố: "Tới một thời gian nào đó thì quân đội viễn chinh Pháp phải rút khỏi Đông Dương. Cần phải xây dựng một kế hoạch lập lại các vùng căn cứ du kích ở hậu phương và ở miền núi liên kết với những phần tử chống đối chế độ Việt Minh, hoạt động du kích sau lưng Việt Minh để tạo điều kiện cho quân đội Pháp có thể trở lại". Năm 1954 đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ đã thực hiện được âm mưu phỉ hóa nhân dân trên địa bàn Lào Cai. Theo tổng kết của Bộ Công an, toàn miền Bắc có 14 huyện có phỉ với tổng số gần 20.000 tên thì ở Lào Cai chiếm 6 huyện với số lượng 8.788 lượt người đi phỉ, bằng 8% dân số lúc ấy. Tháng 5 năm 1954, trong lúc ta đang tập trung mọi sức lực vào quyết chiến điểm Điện Biên Phủ thì Ăng-ten GCMA Lào Cai đã ra lệnh cho các cụm phỉ ở các huyện trong tỉnh mở một chiến dịch tiến công vào tháng 7 năm 1954, lấy tên là chiến dịch Nguyễn Đình Văn - "Cuộc tấn công tổng quát"1 (Theo lời cung tù binh: thiếu úy biệt kích La Ngọc Kim - hồ sơ Đ5-T13-14). Sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, thiếu tá Phuốc-ni-ê, chỉ huy GCMA Bắc Bộ đã ra lệnh cho các cụm phỉ ở miền tây Lào Cai gồm các huyện Sa Pa, Bát Xát, Phong Thổ và hữu ngạn Bảo Thắng giải thể các đơn vị chiến đấu rút các tên chỉ huy đầu sỏ về Hà Nội theo Pháp hoặc tìm cách sang Lào. Còn các cụm phỉ miền đông ở Bắc Hà, Mường Khương tiếp tục tổ chức vũ trang chống lại ta.


Thực dân Pháp hoàn toàn bị thất bại. Miền Bắc được giải phóng. Đế quốc Mỹ xâm lược nhảy vào miền Nam, kế tục bọn biệt kích gián điệp Pháp là bọn tình báo gián điệp Mỹ thực hiện âm mưu phá hoại miền Bẳc nước ta, trong đó có âm mưu tiếp tục sử dụng bọn phản động ở miền núi. Vào những năm 1959-1960, khi tỉnh Lào Cai đang hoàn thành nhiệm vụ cải cách dân chủ, tiến hành hợp tác hóa ở vùng nông thôn thi các thế lực phản động đã gây ra một số vụ bạo loạn. Điển hình là vụ bạo loạn ở A Lù, Bát Xát tháng 5 năm 1959 và vụ bạo loạn ở Pha Long tháng 9 năm 1960, thành phần tham gia chủ yếu là những tên phỉ cũ chưa chịu cải tạo. Tháng 6 năm 1963 đế quốc Mỹ lại thả xuống xã Phú Nhuận huyện Bảo Thắng và Võ Lao huyện Văn Bàn 13 dù trong đó có 8 dù lương thực, vũ khí và 5 tên biệt kích là người Tày, người Thái ở Hà Giang, Sơn La, Lai Châu đã được huấn luyện ở Sài Gòn đưa về để móc nối với bọn phản động ở Lào Cai thực hiện phá hoại.


Lực lượng phỉ còn lại trên địa bàn Lào Cai từ sau các đợt ta tiếp tục truy quét (1955-1960), một số đã được lệnh của tình báo gián điệp Pháp - Mỹ mang súng về hàng, số khác ngoan cố trốn hẳn vào rừng tụ hợp sinh sống chờ thời cơ (vì chúng vẫn tin tưởng rằng Pháp có thể trở lại hoặc Mỹ sẽ đến) để tiếp tục phá hoại cách mạng. Vì vậy những tên phỉ cuối cùng bị ta truy bắt và ra hàng tháng 5 năm 1970 ở Sa Pa, sau khi nhận thấy khung cảnh thay đổi của địa phương đã nói: "Biết thế này thì chúng tôi ra đầu thú từ lâu cho khỏi khổ"1 (Lời cung của tên Tháo A Đỏa khi ra đầu thú tháng 5 năm 1970). Tất cả những điều đó đã chứng minh: Việc gây dựng thổ phỉ ở một số vùng cao biên giới, trong đó có Lào Cai từ cuối năm 1950 nằm trong hệ thống âm mưu của đế quốc Pháp - Mỹ và bọn phản động quốc tế nhằm chống lại xu thế của thời đại, chống lại con đường cách mạng của Đảng và nhân dân các dân tộc Việt Nam. Chỉ thị số 14/CTTW ngày 16 tháng 4 năm 1955 đã khẳng định: "Vấn đề phỉ là âm mưu lâu dài và thâm độc của đế quốc Pháp - Mỹ - là vấn đề dân tộc, vấn đề quần chúng... Nguyên nhân địch gây được phỉ là do chúng lôi kéo được một số phần tử ở tầng lớp trên của các dân tộc thiểu số, lợi dụng những kỳ thị; thành kiến dân tộc còn tồn tại khá sâu sắc, lợi dụng nguyện vọng thiết tha muốn được cải thiện đời sống của nhân dân, khoét sâu mâu thuẫn, các sơ hở, sai lầm của ta trong việc thực hiện chính sách dân tộc và các chính sách khác".


Nghiên cứu quá trình phát sinh, phát triển của thổ phỉ ở Lào Cai, rút ra kết luận thổ phỉ có 2 nguồn gốc:

Một là: Thổ phỉ ra đời nằm trong âm mưu của đế quốc Pháp và can thiệp Mỹ được hình thành trong thế thua, thế thất bại trên chiến trường, hòng lấy lại thế chủ động đá mất bằng biện pháp gây dựng cơ sở chính trị phản động với đội quân phản động ở những vùng địa thế hiểm trở, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức và đời sống thấp kém dễ lợi dụng, thực hiện chính sách "dùng người Việt trị người Việt" làm căn cứ, bàn đạp để tiến hành chiến tranh xâm lược nước ta, khi chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" đã bị phá sản (đây là nguồn gốc cơ bản).


Hai là: Thổ phỉ sinh ra còn bắt nguồn từ giai cấp thống trị miền núi đã bị đánh đổ nhưng chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, được chủ nghĩa thực dân đế quốc nâng đỡ, kích động hận thù giai cấp, dân tộc ngóc đầu dậy mà đại biểu của nó là các thổ ty, địa chủ mưu toan phục hồi chế độ bóc lột chống lại cách mạng.


Như vậy, thổ phỉ ở Lào Cai có nguồn gốc từ mưu đồ thực dân, phong kiến phản cách mạng, nó không chỉ thuần túy theo nghĩa Hán Việt của từ "thổ phỉ" đồng nghĩa với từ "giặc cỏ" dùng để chỉ một hạng người thường tổ chức võ trang để giết người cướp của như một số người thường hiểu, mà nó là một vấn đề lớn, có liên quan đến các mối quan hệ giai cấp dân tộc, quần chúng của địa phương với chính bản thân nó và quốc tế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn