Bài viết

Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến – ngọn cờ kháng Pháp bất khuất trên vùng đất Cần Đước

Tây Ninh13/05/2026Chi đoàn trường Tiểu học Tân Ân4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Những người cao tuổi ở xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An vẫn truyền tai nhau câu chuyện về một vị anh hùng mà mỗi khi nhắc đến, giọng kể bỗng chậm lại đầy kính trọng. Vào ngày mùng 3 tháng 10 âm lịch hằng năm, dòng người từ nhiều nơi lại tìm về khu mộ cổ nằm lặng lẽ giữa vùng quê thanh bình để thắp nén nhang tưởng nhớ một người đã ngã xuống hơn một thế kỷ trước vì non sông.

Người đó là Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến – thủ lĩnh nghĩa quân chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX, người đã dành trọn tuổi thanh xuân cho cuộc kháng chiến bảo vệ đất Nam Bộ.

Cuộc đời ông chỉ vỏn vẹn 35 năm, nhưng những gì ông để lại đã trở thành một phần ký ức hào hùng của nhân dân Long An nói chung và vùng đất Cần Đước nói riêng.

Lớn lên giữa thời loạn nước mất nhà tan

Nguyễn Văn Tiến sinh năm 1848 tại vùng chợ Quản Tập, nay thuộc huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Đó là giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đầy biến động khi thực dân Pháp từng bước xâm lược Nam Kỳ. Tuổi thơ của ông gắn liền với miền quê sông nước Nam Bộ. Ban ngày, cậu bé Nguyễn Văn Tiến theo cha ra đồng, phụ việc ruộng vườn. Mùa nước nổi, ông cùng bạn bè chèo xuồng bắt cá. Những buổi chiều, cậu bé thường theo người lớn ra bến sông nghe kể chuyện các bậc nghĩa sĩ chống ngoại xâm. Vốn sinh ra khỏe mạnh, nhanh nhẹn, Nguyễn Văn Tiến sớm nổi tiếng trong vùng bởi tài võ nghệ. Người dân kể rằng ông có thể cưỡi ngựa giỏi, bơi xuồng nhanh và sử dụng thành thạo nhiều loại binh khí. Nhưng tuổi trẻ bình yên ấy nhanh chóng khép lại khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên trên đất Nam Bộ.

Năm 1859, thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Sau đó, chúng từng bước mở rộng sự kiểm soát xuống các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Những cánh đồng từng yên bình bắt đầu chứng kiến cảnh làng xóm bị càn quét, người dân bị áp bức, tài sản bị cướp bóc. Sự căm phẫn trong lòng chàng trai trẻ ngày một lớn dần.

Theo cờ nghĩa Trương Định khi mới 16 tuổi

Năm 1864, khi mới 16 tuổi, Nguyễn Văn Tiến quyết định rời gia đình để tham gia lực lượng nghĩa quân dưới trướng Bình Tây Đại nguyên soái Trương Định. Thời điểm ấy, phong trào kháng Pháp tại Nam Bộ đang diễn ra vô cùng quyết liệt. Sau khi triều đình Huế ký hòa ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp, nhiều nghĩa sĩ Nam Bộ không chấp nhận đầu hàng. Họ tiếp tục đứng lên chiến đấu. Nguyễn Văn Tiến là một trong những thanh niên như thế. Từ một nghĩa binh trẻ tuổi, ông nhanh chóng thể hiện sự gan dạ, mưu trí trong chiến đấu. Ông thông thạo địa hình sông rạch vùng Tân An, Cần Giuộc, Cần Đước, Châu Thành, vì vậy thường được giao nhiệm vụ tổ chức phục kích các đoàn quân Pháp. Nhiều trận đánh bất ngờ khiến quân Pháp tổn thất nặng nề. Dân trong vùng bắt đầu gọi ông bằng cái tên đầy nể phục: người chỉ huy gan lì của vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ.

Trở thành Tổng lãnh binh sau khi Nguyễn Trung Trực hy sinh

Năm 1868, sau khi anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực bị thực dân Pháp xử tử tại Rạch Giá, phong trào kháng chiến ở Nam Bộ chịu tổn thất lớn. Trong hoàn cảnh đó, nhiều nghĩa quân đã suy yếu. Nhưng Nguyễn Văn Tiến không lùi bước. Ông được các nghĩa sĩ suy tôn làm Tổng lãnh binh, tiếp tục lãnh đạo phong trào chống Pháp. Dưới sự chỉ huy của ông, nghĩa quân hoạt động mạnh trên địa bàn rộng lớn từ:

Cần Đước

Cần Giuộc

Tân Trụ

Tân An

kéo dài đến Biên Hòa

và Bà Rịa

Ban ngày nghĩa quân ẩn mình trong rừng rậm, vùng lau sậy hoặc những cù lao ven sông. Ban đêm họ bất ngờ tập kích đồn địch. Có hôm chỉ ăn cơm nguội với muối mè. Có lúc phải nhịn đói nhiều ngày. Nguyễn Văn Tiến luôn là người ăn sau cùng. Ông thường nhường phần lương thực ít ỏi cho binh sĩ trẻ hơn mình. Nhiều nghĩa quân sau này kể lại rằng vị thủ lĩnh ấy sống rất giản dị. Ông ngủ trên phản tre. Mặc áo vải thô. Khi rảnh còn tự tay vá áo cho lính. Chính sự gần gũi ấy khiến nghĩa quân một lòng theo ông chiến đấu đến cùng.

Trận chiến cuối cùng ở Bình Đăng

Suốt gần hai thập kỷ chiến đấu, Nguyễn Văn Tiến trở thành cái tên khiến quân Pháp nhiều lần khiếp sợ. Thực dân Pháp treo thưởng lớn cho ai bắt được ông. Năm 1883, trong một trận chiến tại khu vực Bình Đăng (nay thuộc phường Bình Hưng Hòa, khu vực Quận 8, TP. Hồ Chí Minh theo tư liệu địa phương), ông không may rơi vào vòng vây của quân Pháp. Sau nhiều giờ chiến đấu quyết liệt, ông bị bắt. Dù bị thương nặng, ông vẫn không khuất phục. Thực dân Pháp tìm mọi cách dụ hàng. Chúng hứa tha chết nếu ông hợp tác. Nguyễn Văn Tiến thẳng thắn từ chối. Theo người dân truyền lại, trước giờ bị hành hình, ông vẫn giữ khí phách hiên ngang.

Ngày 22/11/1883 (tức mùng 3 tháng 10 năm Quý Mùi), thực dân Pháp đưa ông ra xử chém tại chợ Trạm. Người dân đứng kín hai bên đường. Nhiều người bật khóc khi chứng kiến vị thủ lĩnh nghĩa quân bước ra pháp trường trong tư thế hiên ngang.

Ông hy sinh khi vừa tròn 35 tuổi.

Người dân Cần Đước gìn giữ ký ức về ông suốt hơn 140 năm. Sau khi quân Pháp rút đi, người dân địa phương bí mật đưa thi hài ông về an táng trọng thể tại xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước. Trên phần mộ có dòng chữ:

“Chi mộ Việt Nam ái quốc Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến.”

Năm 1969, phần mộ được người dân trùng tu lại. Năm 1992, quần thể mộ và đền thờ Nguyễn Văn Tiến được tỉnh Long An công nhận là di tích lịch sử. Đến nay, nơi đây vẫn là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ. Ngọn lửa không bao giờ tắt Lịch sử dân tộc Việt Nam có nhiều anh hùng. Có người là tướng lĩnh triều đình. Có người là nhà cách mạng. Và cũng có những người xuất thân bình dị từ ruộng đồng như Nguyễn Văn Tiến nhưng đã trở thành biểu tượng bất khuất của lòng yêu nước. Ông không sống đến ngày đất nước độc lập. Không nhìn thấy lá cờ chiến thắng tung bay.

Nhưng máu của ông đã góp vào dòng chảy bất tận của lịch sử dân tộc.

Hơn 140 năm đã trôi qua, vùng đất Cần Đước hôm nay đã đổi thay mạnh mẽ.

Những con đường mới mở rộng.

Những cánh đồng trù phú hơn.

Tiếng súng đã lùi xa.

Nhưng tinh thần bất khuất của Tổng lãnh binh Nguyễn Văn Tiến vẫn còn nguyên giá trị. Đó là bài học về lòng yêu nước.

Về khí phách.

Về tinh thần không khuất phục trước ngoại xâm.

Và đó cũng là lời nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải sống xứng đáng với sự hy sinh của cha ông – những người đã ngã xuống để đất nước có được hòa bình hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn