Khác

Tống Phước Hoà

Ông Tồng Phước Hoà là anh ruột của Lưu thủ Tông Phước Hiệp, vẫn dòng dõi người huyện Tông Sơn (nay là Hà Trung), tỉnh Thanh Hoá, theo nghiệp bình lúc còn trai trẻ, được phong hàm Cai cơ, dưới quyền Lưu thủ Long Hồ Tông Phước Hiệp. Sau khi thất trận ở Phú Yên, Phước Hiệp lui về Văn Phong, sai Phước Hòa đông giữ Loan (Cam).

01/03/2026Ban Biên tập tổng hợp4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khoảng năm Bính Thân (1776), quân Tây Sơn truy đuổi quân Nguyễn vào Gia Định, Tồng Phước Hòa đem quân bản bộ vào cứu, chúa tháng cho Tông Phước Hòa làm Chương thủy doanh Quận công.

Lúc bây giờ có sự bất hòa giữa Lý Tài và Đỗ Thanh Nhân, chúa Nguyễn không dàn xếp được, bèn sai Tồng Phước Hòa và Phước Thiêm vào đóng quân ở Long Hồ để phòng bị.

Cũng trong năm ấy, Định vương Nguyễn Phúc Thuẩn bị tướng Lý Tài ép phải giao quyền cho Nguyễn Phúc Dương (tức Tân Chính vương). Sau đó, Tông Phước Hòa cùng Tồng Phước Thiêm được cử vào dĩnh Long Hồ. Ở đây, trong quân ngũ của Tổng Phước Hiệp, ông được giao coi giữ Đông Khẩu đạo (tức vùng Sa Đéc ngày nay) thay cho Cai cơ Nhân thanh hâu Nguyễn Hữu Nhân đang lâm trọng bịnh.

Năm Đinh Dậu (1777), đại bình của Tây Sơn từ Quy Nhơn lại tiền đánh Gia Định, Tông Phước Hòa cùng với Tổng Phúc Thiêm lập tức điều động binh sĩ ra sức cản phá. Nhưng trước sức mạnh của đối phương, Tổng Phước Hòa phải cho người phỏ chúa Nguyễn Phúc Dương chạy về Ba Vát (nay thuộc Bến Tre), chỉ còn mỗi mình ông ở lại dốc sức chống cự.

Nghe tin Tây Sơn đã bắt được chúa Nguyên Phúc Dương. Tổng Phước Hòa gom tàn quân quyết đánh một trận nữa để hòng cứu vân tỉnh thể, nhưng cũng thất bại. Trước tình thể đó, ông bảo với thuộc hạ: "Chúa lo thì bể tôi phải chết. Nghĩa không nên tránh". Ông liền trò gươm tự sát tại chiến trường Ba Vát.

Đền năm Gia Long thứ 9 (1810). Tồng Phước Hòa được nhà vua cho truy tặng là Chường dinh Quận công và được đưa vào thờ ở miều Trung Tiết Công Thân ở Huê.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), ông được sắc phong làm Trung đảng thân. Vồn từng là Tổng binh Đông Khấu đạo, nên khi xưa ở làng Tân Phú Đông thuộc Sa Đéc có miều thờ ông Tổng Phước Hòa. Với lòng tôn kính, miều thờ này thường được người dân gọi là Miều quan Thượng đẳng, mặc dù ông chỉ được sắc phong làm Trung đắng thân. Năm 1916, miều bị hư hòng nặng, sau khi quân Pháp đánh chiếm lại Sa Đéc đã cho phá bỏ để xây trại lính. Vì vậy, các bô lão đã đem bài vị và sắc phong của ông gửi (phối thờ) trong đình Vĩnh Phước. Đình này được xây dựng vào năm 1807, thờ Nhân thanh hầu Nguyễn Hữu Nhân do sắc phong năm Minh Mạng thứ 3 (1822) và “Thành Hoàng Bốn Cảnh", được sắc phong của vua Tự Đức vào năm 1852 (Tự Đức ngủ niên).

Do sắc phong cho Nhân thành hầu Nguyễn Hữu Nhân bị thất lạc một thời gian dài trước năm 1975, trong đình chỉ có sắc phong cho Tông Phước Hòa, nên có lúc người ta gọi đình Vĩnh Phước là đình Tông Phước Hòa. Người đời sau có thơ vịnh Tồng Phước Hòa:

Quốc công trọng tước đây lòng trung Tay đỡ thành Nam chông thể công Đất trố anh tài trong nước lừa Trời treo gương Tông chói non sông Qui danh thơm nực ngoài ba cõi Oanh liệt còn vung thầu cửu trùng Công đức đã đây trong võ trụ Hiến thân chẳng nhọc, Đề vương phong.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn