Bài viết

Tổng quan về di sản Hán Nôm ở các gia đình, dòng họ tại Hội An

Đà Nẵng19/04/2026Đoàn phưòng Hội An (Đoàn phưòng Hội An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trải qua quá trình phát triển lịch sử, do nhiều cơ may và do các nguyên nhân về lịch sử - văn hóa tại Hội An hiện tồn một kho tàng di sản Hán Nôm khá đồ sộ. Chúng bao gồm các văn khắc trên đá, gỗ, đồng và các tư liệu văn bản trên giấy, vải. Trong số đó, một bộ phận quan trọng của di sản Hán Nôm đã và đang được các gia đình, tộc họ liên tục bảo quản từ đời này sang đời khác. Chúng bao gồm các văn bản hành chính, giấy tờ đất đai, khế ước, tờ đoạn mãi tài sản, ruộng đất, tờ chấp thục, phân thư tài sản, văn cúng, gia phả, ghi chép các loại… và các văn bia, bia mộ văn chuông, hoành phi, liễn đối, bài vị hiện đang bảo quản, bài trí trang trọng ở các gia đình, nhà thờ tộc họ…

Trong những năm qua bộ phận di sản này đã được Trung tâm Quản lý Di tích nay là Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An sưu tầm, sao chụp, dịch thuật bước đầu và đưa vào lưu trữ. Đánh dấu cho sự khởi đầu mang tính quy mô của công tác này là chương trình hợp tác sưu tầm, sao chụp tư liệu Hán Nôm tại các gia đình trong Khu phố cổ Hội An giữa Bộ phận Quản lý Di tích Hội An với trường Đại học Nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản tiến hành vào năm 1995. Trong đợt này đã sao chụp được nhiều ngàn trang tư liệu Hán Nôm đang được lưu giữ tại nhiều gia đình trong khu phố cổ để đưa vào lưu trữ theo từng địa chỉ nhà. Tiếp theo, một đợt sưu tầm có quy mô khá lớn nhằm thu thập tư liệu để phục vụ đề tài nghiên cứu về xã Minh Hương ở Hội An được tiến hành vào những năm 1998, 1999. Ngoài ra, hàng năm Trung tâm cũng đã tiến hành thu thập, sao chụp một số tư liệu Hán Nôm tại các gia đình, nhà thờ tộc trong và ngoài khu phố cổ. Tổng số tư liệu loại này đã sưu tầm được khoảng trên 10.000 trang. Một số trong chúng đã được giới thiệu trong các tập Di sản Hán Nôm Hội An I, II, III của Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di sản Văn hóa Hội An.

Qua sưu tầm cho thấy rất nhiều gia đình trong khu phố cổ còn lưu giữ nhiều tư liệu Hán Nôm liên quan đến đất đai, thổ phố. Dường như nhà nào trong phố cũng còn giữ lại một ít giấy tờ loại này cho dù qua tiếp xúc chúng tôi được biết rằng một số trong chúng đã nộp cho cơ quan quản lý nhà đất để làm thủ tục cấp giấy tờ mới.

Bên ngoài khu phố cổ cũng có một số gia đình còn giữ các tư liệu Hán Nôm, trong đó nhiều nhất là các gia phả của tộc họ, các văn bản liên quan đến cúng tế, giỗ kỵ. Đặc biệt có những nhà còn giữ nhiều sắc phong của triều Nguyễn liên quan đến các nhân vật của gia đình, tộc họ như trường hợp tộc Nguyễn Đức ở Cẩm Châu, tộc Hồ ở Cẩm Thanh, tộc Nguyễn Tường ở Cẩm Phô. Để có thể hình dung tình hình lưu giữ tư liệu Hán Nôm trong và ngoài khu phố cổ, chúng tôi liệt kê một số danh mục như sau:

1/ Trong khu phố cổ:

- Tại nhà thờ Trương Đôn Mục (địa chỉ 54/4 Phan Châu Trinh)
STTLoại văn bảnNội dungNiên đạiSố trang01Tờ khaiKê khai đất đai tại xứ Hổ Bì của Trương Hiệp Nương, xã Minh HươngThái Đức 8 (1785)202ntKê khai đất đai tại xã Hội An của Trương Kỉnh Tâm, Trương Kỉnh Trung, Trương Kỉnh Tại, xã Minh Hươngnt303ntKhai đất cát ở rừng của bà Dương Thị NghiêmGia Long 3 (1804)204Khế ướcCầm cố đất ở phốGia Long 9 (1810)nt05Tờ khaiKê khai đất công tư để tu bộGia Long 10 (1811)306ntKê khai đất tư của bà Đinh Thị ĐạoGia Long 12 (1813)207ntKê khai đất đai để tu bộntnt08Khế ướcXin chuộc lại đất của Trương Chí CẩnGia Long 16 (1817)309Tờ khaiKê khai đất ở xã Minh HươngMinh Mạng 21 (1840)210Thông triThông báo các thôn xã kê khai ruộng đất để tu bộntnt11Tờ khaiKê khai đất theo trát của quan trênntnt12ntKê khai đất đaiThiệu Trị 1 (1841)313Tờ trìnhXin thẩm xét tờ đoạn mãi đất phốTự Đức 10 (1857)414Khế ướcĐoạn mãi (bán đứt) đất trồng dâuTự Đức 10 (1857)215ntĐoạn mãi đất phốTự Đức 35 (1882)nt16ntCầm cố đất đaiThành Thái 13 (1901)117ntBán đứt đất đai và nhà phố ở xã Cẩm Phôntnt18ntBán đứt đất phố 1 thửaThành Thái 16 (1904)nt19ntBán đứt đất phố của Thái Hữu Tháintnt20ntTình nguyện giao đất của người ở hiệu Thiên TháiKhải Định 7 (1922)nt21Tờ kêKê các ngày cúng giỗ của tộc Trương 2122Văn tếVăn tế hàng năm của tộc TrươngBính Thìn1023Gia phảLiệt kê thế thứ các đời của tộc TrươngThế kỷ 1918Tổng cộng:23 văn bản90 trang - Tại nhà thờ tộc Trần (số 21 Lê Lợi)
STTLoại văn bảnNội dungNiên đạiSố trang01Tờ thừa nhậnThừa nhận các giới hạn đất đai để làm địa bạGia Long 10 (1811)302ntThừa nhận giới hạn địa phận của các xã lân cận để làm địa bạnt403ntXin thừa nhận giới hạn đất đai giáp xã Hội An của xã trưởng xã Minh Hươngntnt04ntXin thừa nhận giới hạn đất đai của xã trưởng Hội Annt205ntThừa nhận đất đai chấp bằng của xã Hội Anntnt06Địa bạKê khai đất công tư, ao vườn, mộ địa của xã Hội AnGia Long 13 (1814)907Gia phảLiệt kê thế thứ các đời của tộc TrầnKhải Định 2 (1917)32Tổng cộng:7 văn bản56 trang
2/ Ngoài khu phố cổ:

- Tại nhà thờ tộc Nguyễn Viết (Để Võng) (tổ 7, khối Sơn Phô I, phường Cẩm Châu)
STTLoại văn bảnNội dungNiên đạiSố trang01Tờ khaiKê khai đất đai của xã Để Võng (mất tờ đầu)Cảnh Hưng 19 (1757)702ntKê khai đất đai xã Hoa PhôGia Long 11 (1812)2603Địa bạKê khai đất đai của xã Để Võngnt1304ntKê khai đất đai của xã Để VõngGia Long 13 (1814)505Sắc phongGiáng Nguyễn Tiến Tài người xã Để Võng làm Quan Lộc tự chánh bát phẩm thư lạiMinh Mạng 12 (1831)106BẩmXin xác nhận đất đai của lý hào xã Để VõngThành Thái 16 (1904)407ntntThành Thái 18 (1906)308Công vănTổng đốc Quảng Nam họ Hồ trình đến Bộ Hộ về đất đai xã Để Võngnt609Thừa nhậnThuận ưng về việc phân chia thủy giới giữa các xã Phước Trạch, Để Võngnt310Tờ trìnhXin xác nhận phân chia giới hạn thủy giới của hai xã Phước Châu Trung và Để VõngDuy Tân 3 (1909)211Biên nhậnNhận quyên tiền của lý trưởng hai xã Hà Lộc và Gia LộcDuy Tân 4 (1910)112Khế ướcThuận bán đất của các chủ có đất ruộng ở Hà Tơm xã Hà Mint813Biên nhậnNhận tiền của lý dịch xã Hà Mint314Tờ trìnhTrình thuận nhượng đất đai của lý dịch xã Viêm Minhntnt15Biên nhậnNhận tiền lưu chiếu của 3 xã Viêm Minh, Hà Quảng, Hà Lộcnt216Tờ trìnhTrình thuận nhượng đất của hào lý 2 xã Hà Lộc, Gia LộcDuy Tân 5 (1911)317ntXin giảm thuế của hào lý xã Để VõngKhải Định 2 (1917)418Gia phảLiệt kê thế thứ các đời của phái 2 tộc Nguyễn Viết Để VõngKhải Định 2 (1917)4419BẩmXin sao lại sổ bộ của lý hương xã Để VõngBảo Đại 10 (1934)220TrátSức xã Để Võng kê khai đất đai để nhập bộnt521Gia phảLiệt kê thế thứ các đời của phái 3 tộc Nguyễn Viết Để Võngnt622Thừa nhậnThuận nhượng đất của xã Viêm Minh cho 2 xã Hà Lộc, Gia LộcKhông ghi niên đại223Tờ trìnhTrình về đất đai của lý hào xã Hà Lộc, Gia Lộcntnt24Khế ướcBán ruộng nước (thủy điền) của lý hương xã Để Võngnt125Ghi chépNghị luận không rõ xuất xứnt2Tổng cộng:25 văn bản158 trang
- Tại nhà thờ tộc Phan Xuân (xã Cẩm Kim)
STTLoại văn bảnNội dungNiên đạiSố trang01Văn cúngVăn cúng tư độ đạo tràng của phái nhì tộc Phan XuânNăm Ất Mùi10602Gia phảLiệt kê thế thứ các đời của phái nhất tộc Phan Xuânnt13303Phả hệLiệt kê các đời của tộc Phan XuânKhông rõ năm804Văn cúngVăn cúng bạt độ của tộc Phan Xuânnt27105Gia phảLiệt kê thế thứ tôn thân của tộc Phan Xuânnt7106ntLiệt kê thế thứ các đời của phái nhì tộc Phan XuânKhông rõ năm707Văn cúngVăn cúng bạt độ của tộc Phan Xuân tại chùa Phước LâmNăm Qúy Mùi1408Phả hệGhi các ngày kỵ giỗ của tộc Phan XuânNăm Nhâm Dần2409Gia phảLiệt kê thế thứ các đời của chi 5, phái 2 tộc Phan XuânKhông rõ năm1310ntLiệt kê thế thứ các đời chi 5, phái 2 tộc Phan XuânNăm Đinh Mão1611Văn bằngBằng của Đốc công Võ khố cấp cho Tượng mục Phan Văn Mưu người Giáp Đông, châu Kim BồngThành Thái 1 (1889)112ntBằng của Đốc công Võ khố cấp cho ông Phan Văn Mưu làm Thí sai tòng cửu phẩm Tượng mụcThành Thái 3 (1891)nt13ntBằng của bộ Công chuẩn cho Tượng mục Phan Văn Mưu về hưu tại nguyên quánThành Thái 6 (1894)nt14Sắc phongSăc phong cho Phan Văn Mục thực nhận hàm Tòng cửu phẩm Tượng mụcThành Thái 8 (1896)nt15Văn cúngVăn cúng bạt độ của phái nhất tộc Phan XuânThành Thái 14 (1902)5816ntVăn cúng bạt độ chi nhất, phái nhất tộc Phan XuânBảo Đại 6 (1930)94Tổng cộng:16 văn bản819 trang
Qua một số bảng liệt kê cũng như qua nội dung các tư liệu Hán Nôm sưu tầm được ở các gia đình, tộc họ chúng tôi thấy có sự khác nhau chút ít giữa trong và ngoài khu phố cổ. Trong khu phố cổ nhiều nhất là các giấy tờ chấp thục, đoạn mãi, cầm cố đất đai, thổ phố liên quan đến lai lịch từng ngôi nhà. Ngoài khu phố cổ nhiều nhất là các giấy tờ liên quan đến địa giới, đất đai, gia phả, văn cúng và các văn bằng, sắc phong những cá nhân của các tộc họ. Một số gia đình tộc họ đã bảo quản, lưu giữ luôn sổ bộ, giấy tờ của làng xã như tộc Nguyễn Viết lưu giữ sổ bộ, sắc phong của làng Để Võng, tộc Võ Công lưu giữ sổ bộ, văn bằng của phường Xuân Mỹ v.v… Tình trạng này có lẽ do các tộc họ nói trên từng giữ vai trò, trọng trách trong bộ máy hương lý của làng xã nên đã bảo quản luôn sổ bộ của làng xã mình.

Về niên đại, một số giấy tờ đất đai, nhà cửa ghi niên hiệu Cảnh Trị, Long Đức, Chính Hòa, Cảnh Hưng, Thái Đức, Quang Trung… Tuy nhiên hầu hết trong chúng không có dấu ấn triện, khả năng là do sao chép lại. Chưa tìm thấy các văn bản có dấu ấn triện thời các chúa Nguyễn như ấn Tổng Trấn tướng quân, Quốc Vương chi ấn. Các văn bản có ấn triện sớm nhất là các văn bằng, lệnh chỉ, sai phái trước khi Gia Long lên ngôi một năm (1801). Ở các văn bản này dùng ấn Tiểu Long có các chữ Thủ Tín thiên hạ văn võ quyền hành và ấn lớn được đúc vào năm 1709 thời chúa Nguyễn Phúc Chu ghi các chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bửu. Thời Tây Sơn có một số giấy tờ đất đai ghi niên hiệu Thái Đức và có dấu Phụ Chính, mực màu đen. Trong số tư liệu ở các gia đình, tộc họ này nhiều nhất có niên đại từ Gia Long trở về sau, trong đó có đóng dấu triện của triều đình trung ương và chính quyền trấn, phủ huyện địa phương, các con dấu này dùng mực màu son (đỏ).

Về nội dung, có thể phân thành các loại:

a) Các khế ước, tờ đoạn mãi, chấp thục, cầm cố, phân chia tài sản, gia sản, đất đai, thổ phố.

b) Các văn bản phân chia địa giới, các sổ bộ đất đai (địa bộ), dân đinh của một số làng xã (đinh bộ).

c) Các gia phả, văn cúng, văn tế của các tộc họ.

d) Các văn bằng, sắc phong liên quan đến cá nhân tham gia trong bộ máy nhà nước của chính quyền phong kiến.

e) Hoành phi, liễn đối, văn bia, bia mộ của các tộc họ, gia đình.

g) Các ghi chép về văn thơ, thư từ và các giấy tờ khác.

Nhận xét bước đầu:

Trong số tư liệu Hán Nôm này nhiều nhất là các loại giấy tờ liên quan đến mua bán, chuyển nhượng đất đai, thổ phố, tài sản, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa nói riêng, của nền kinh tế hàng hóa nói chung tại Hội An trước đây.

Các tư liệu này cung cấp thông tin quan trọng liên quan đến nhiều lĩnh vực về lịch sử, kinh tế, văn hóa, qua đó giúp chúng ta có thể xác định được quá trình nhập cư của các tộc họ tại Hội An, nắm bắt được hoạt động kinh tế nông ngư nghiệp, thủ công nghiệp và buôn bán dịch vụ đã từng phát triển nhộn nhịp một thời tại địa phương, về sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng của các cộng đồng dân cư, về lai lịch một số cá nhân đối với cộng đồng… Ngoài ra, các văn bản giấy tờ này còn cung cấp nhiều thông tin về tổ chức bộ máy của chính quyền phong kiến các cấp, về thể thức văn bản hành chính và thư pháp văn bản qua các thời kỳ…

Đây là những tư liệu quý được các gia đình, tộc họ bảo quản khá tốt. Tuy nhiên qua khảo sát vẫn còn tình trạng một số văn bản bị mối mọt hoặc các tác nhân về mưa gió, bão lụt, hỏa hoạn làm cho hư hỏng, mất mát. Một số tư liệu lại bị thất thoát, hư hỏng do quá trình sao chụp, làm tư liệu của một số đơn vị, tổ chức bên ngoài. Do vậy phải tiếp tục tăng cường ý thức trân trọng gìn giữ di sản của cộng đồng, cá nhân và nâng cao các biện pháp bảo quản để kéo dài tuổi thọ của bộ phận di sản quý giá này trong thời gian đến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn