Bài viết

TỔNG TƯ LỆNH VÀ NHỮNG DẤU MỐC HOA LỬA: HÀNH TRÌNH KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Hành trình cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1911 – 2013) là một trong những trang sử hào hùng nhất của dân tộc Việt Nam. Từ một thầy giáo dạy Lịch sử tại trường Tư thục Thăng Long (Hà Nội), ông đã trở thành vị Tổng Tư lệnh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, dẫn dắt quân đội vượt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

29/09/2026Khoa học xã hội (Đoàn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
TỔNG TƯ LỆNH VÀ NHỮNG DẤU MỐC HOA LỬA: HÀNH TRÌNH KHÁNG CHIẾN CỦA ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Trong dòng chảy thiên hoa lệ của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những chiến công không chỉ đập tan ách thống trị của ngoại xâm mà còn vươn tầm ảnh hưởng ra toàn thế giới, trở thành biểu tượng bất diệt cho tinh thần độc lập và ý chí quật cường. Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" mùa xuân năm 1954 chính là một mốc son chói lọi như thế. Trải qua 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm chấm muối, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và trực tiếp là Tổng Tư lệnh – Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đập tan tập đoàn cứ điểm kiên cố nhất Đông Dương của thực dân Pháp. Trận quyết chiến chiến lược ấy không chỉ kết thúc 9 năm kháng chiến trường kỳ chống Pháp mà còn mở ra một chương mới cho phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Đến năm 1953, cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp bước sang năm thứ tám trong tình thế sa lầy và bế tắc. Nhằm gỡ gạc thế cờ, Pháp cùng sự viện trợ tối đa về tài chính và quân sự từ Mỹ đã thông qua Kế hoạch Navarre với tham vọng xoay chuyển cục diện chiến tranh trong vòng 18 tháng.Tháng 11 năm 1953, phát hiện chủ lực của ta tiến lên hướng Tây Bắc, Tướng Navarre quyết định cho quân nhảy dù chiếm lòng chảo Điện Biên Phủ (thuộc tỉnh Lai Châu cũ) để chặn đường tiến của quân ta và bảo vệ Bắc Lào. Tại đây, Pháp đã tập trung lực lượng tinh nhuệ nhất, xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm khổng lồ gồm: 16.200 quân cùng hàng loạt binh chủng hiện đại (dù, bộ binh, pháo binh, không quân).49 cứ điểm được tổ chức liên hoàn thành 3 phân khu (Bắc, Trung tâm và Nam).Hai sân bay Mường Thanh và Hồng Cúm cùng hệ thống pháo hạng nặng, xe tăng yểm trợ.

Các tướng lĩnh Pháp – Mỹ tự tin tuyên bố Điện Biên Phủ là một "pháo đài bất khả xâm phạm", một "chiếc máy nghiền sinh lực" sẵn sàng đè bẹp mọi lực lượng chủ lực của Việt Minh. Trước tình hình đó, tháng 12 năm 1953, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp tại Tỉn Keo (Thái Nguyên) dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quyết định chọn Điện Biên Phủ làm điểm quyết chiến chiến lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước khi ra mặt trận: "Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh."

Ban đầu, Phương châm tác chiến dự định của Đảng ủy Chiến dịch là "Đánh nhanh, thắng nhanh" trong vòng 3 ngày 2 đêm bằng hỏa lực tập trung. Tuy nhiên, khi quan sát kỹ lưỡng tình hình thực tế chiến trường, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận thấy nhiều nguy cơ:Tập đoàn cứ điểm của địch ngày càng được tăng cường củng cố kiên cố.Quân ta chưa có kinh nghiệm tiêu diệt tập đoàn cứ điểm quy mô lớn và phối hợp binh chủng tầm cỡ trên địa hình lòng chảo.Sau một đêm thức trắng trăn trở, sáng ngày 26 tháng 1 năm 1954 – chỉ vài giờ trước thời điểm nổ súng theo kế hoạch cũ – Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đưa ra quyết định khó khăn nhất trong đời cầm quân của mình: Cho hoãn giờ nổ súng, lệnh cho các đơn vị rút pháo ra và chuyển phương châm tác chiến sang "Đánh chắc, tiến chắc". Quyết định lịch sử này đã bảo toàn lực lượng chủ lực, tạo dựng thế trận chắc thắng cho toàn bộ chiến dịch.

Chiến dịch Điện Biên Phủ chính thức mở màn vào ngày 13 tháng 3 năm 1954 và kéo dài suốt 56 ngày đêm qua 3 đợt tiến công mãnh liệt:

Đợt 1 (13/03 – 17/03/1954): Đột phá cửa ngõ phía Bắc

Vào lúc 17h10 ngày 13/03/1954, hỏa lực pháo binh ta bất ngờ dội dập dồn xuống cứ điểm Him Lam, mở màn chiến dịch. Trong trận chiến này, Anh hùng Phan Đình Giót đã lấy thân mình lấp lỗ châu mai, tạo điều kiện cho đồng đội xông lên diệt địch. Quân ta nhanh chóng làm chủ cứ điểm Him Lam, Độc Lập và bức hàng cứ điểm Bản Kéo, đập tan cánh cửa phía Bắc của tập đoàn cứ điểm.

Đợt 2 (30/03 – 30/04/1954): Giằng co ác liệt các đồi phía Đông

Quân ta đồng loạt tấn công vào các cứ điểm phòng ngự then chốt phía Đông phân khu Trung tâm như đồi A1, C1, C2, D1, E1... Chiến sự diễn ra vô cùng đẫm máu và khốc liệt, hai bên giằng co từng tấc đất, từng mét giao thông hào. Đặc biệt tại đồi A1, cuộc chiến kéo dài nhiều tuần liền. Trong giai đoạn này, quân ta đã sáng tạo ra hệ thống mạng lưới giao thông hào dài hàng trăm kilômét siết chặt vòng vây, siết cổ sân bay Mường Thanh và cắt đứt đường tiếp tế không trung duy nhất của Pháp.

Đợt 3 (01/05 – 07/05/1954): Tổng công kích và Thắng lợi hoàn toàn

Đêm ngày 06/05/1954, một khối thuốc nổ nặng 1.000kg do các chiến sĩ công binh đào hầm đặt sâu trong lòng đồi A1 được kích nổ. Tiếng nổ rung chuyển núi rừng đã xé rách tuyến phòng thủ kiên cố nhất của địch.

Chiều ngày 07/05/1954, lệnh tổng công kích được phát ra trên toàn mặt trận. Đến 17h30 ngày 07/05/1954, tổ xung kích do Đại đội trưởng Hoàng Đăng Vinh dẫn đầu đã tiến thẳng vào hầm chỉ huy bắt sống Thiếu tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ Tham mưu địch. Lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" tung bay trên nóc hầm De Castries, báo hiệu Chiến dịch Điện Biên Phủ đã toàn thắng.Thắng lợi của Điện Biên Phủ không chỉ đến từ sự chỉ huy thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp mà còn là kết tinh của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc:Hàng chục vạn dân công hỏa tuyến đã vượt qua mưa bom bão đạn, mở đường qua các đèo dốc hiểm trở (đèo Lũng Lô, đèo Pha Đin).Hàng vạn chiếc xe đạp thồ – phương tiện vận tải thô sơ nhưng vô cùng hiệu quả – đã chở hàng trăm kilôgam lương thực, đạn dược ra tiền tuyến.Sự hy sinh oanh liệt của những người con anh hùng như Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn pháo, Phan Đình Giót lấp lỗ châu mai... đã trở thành những biểu tượng bất tử của lòng yêu nước.

Bảy mươi năm đã trôi qua, lòng chảo Điện Biên Phủ năm xưa nay đã đổi thay với những cánh đồng mường Thanh xanh ngát và phố phường sầm uất, nhưng âm hưởng của chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi cùng thời gian. Trận đánh lịch sử ấy không chỉ khép lại một thời kỳ đau thương nhưng anh hùng của dân tộc, mà còn khẳng định một chân lý vĩnh hằng: Một dân tộc nhỏ bé, nếu biết đoàn kết chặt chẽ, có đường lối cách mạng đúng đắn và quyết tâm chiến đấu vì độc lập tự do thì hoàn toàn có thể đánh bại mọi kẻ thù xâm lược dù hùng mạnh đến đâu. Rèn luyện tinh thần "Quyết chiến - Quyết thắng" từ Điện Biên Phủ năm xưa chính là hành trang tinh thần vô giá để thế hệ trẻ hôm nay tiếp bước cha anh, dựng xây đất nước Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Video / Phóng sự

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn