TRA TẤN TÙ BINH TỪ KHI ĐẶT CHÂN LÊN ĐẢO (HAY CÒN GỌI LÀ “THỦ TỤC NHẬP TRẠI”)
TRA TẤN TÙ BINH TỪ KHI ĐẶT CHÂN LÊN ĐẢO (HAY CÒN GỌI LÀ “THỦ TỤC NHẬP TRẠI”)
Ngay từ khi tù binh mới đặt chân lên đảo, địch đã tra tấn phủ đầu rất tàn bạo nhằm khủng bố tinh thần. Tù binh từ đất liền bị còng tay bằng còng số 8, hoặc bằng dây điện dính chùm với nhau rồi được chuyển lên tàu hoặc máy bay để chuyển ra Phú Quốc. Tại Phú Quốc, lính quân cảnh đón họ với khuôn mặt hùng hổ, trên người đeo đầy súng đạn, dùi cui. Tù binh mới đặt chân lên đảo liền bị quân cảnh đánh phủ đầu tới tấp bằng báng súng, dùi cui, giày đình đá vào người. Bọn quân cảnh vừa đánh đập tù binh, vừa chửi thể và đe dọa rằng đây là hải đảo, ở đây xa đất liền, không có dân, không có con đường chạy thoát, phải ngoan ngoãn vâng lời chúng, nếu không sẽ bị đánh chết, bị bắn bỏ... Chúng gọi đó là “bài học” đầu tiên, là “thủ tục nhập trại".
Anh Phạm Bá Lữ và khoảng 60 anh em khác bị đưa ra Phú Quốc trên chiếc máy bay C130. Vừa xuống sân bay, mọi người đã bị ngay một trận “mưa” dùi cui, gậy của bọn quân cảnh. Sau khi “ra oai”, tù binh được đưa về trại giam và tiếp tục nhận những trận đòn roi khác như một hình thức dần mặt.
Anh Đình Như Lạc bị đưa lên máy bay ra đảo Phú Quốc cùng với những anh em khác trên chuyến ra đảo ngày 19-5-1968. Khi các anh vừa xuống máy bay, chúng còng tay các anh, rồi xiểng chặt cùng một dây cáp. Hàng trăm tù binh bị xiềng xích đi thành một dãy dài giữa hai hàng lính ngụy cầm dùi cui, roi điện, gậy. Đi được khoảng 200 mét, bọn chúng bắt đầu đánh tới tấp vào đoàn tù bình. Không chịu nổi, nhiều tù binh đã thét lên đau đớn. Sau những trận đòn, đa số tù binh đều ngã, ngất lịm, nhiều anh em bị chúng đánh gãy tay, chân.
Anh Trần Tiến Đan kể, vào khoảng tháng 7-1968, địch bắt các tù binh nhập trại phải cởi hết quần áo nằm ngửa giữa cát nóng, từng đoàn quân cảnh chân mang giày đình thi nhau giẫm đạp lên bụng tù binh hết người này qua người khác để tra tấn. Sau đó, chúng bày trò hỏi anh em “mặt trời Phú Quốc này tròn hay là méo", anh em bảo là tròn, chúng lại chửi “Đ. m... mày, mặt trời ở đây méo”. Thế là chúng lại hành hạ anh em gần một giờ đồng hồ giữa trời nắng. Một số anh em từ các vùng chiến thuật chuyển ra, chúng gọi là “số đen” và thi nhau đánh đập nhiều hơn....
Anh Phùng Hữu Dương là tù binh trong đoàn tù bình khoảng 100 người từ Trại giam Non Nước (Đà Nẵng) bị địch đưa ra Phú Quốc ngày 19-12-1968 kể: tất cả tù bình bị trói tay và buộc chặt với nhau, đầu bị trùm bao cát thay cho bịt mặt để khỏi nhìn thấy đi đâu. Vừa đặt chân xuống đảo, tù binh bị đánh nằm la liệt, lại thêm trời nắng, nóng và khát, chúng dùng vòi xịt xối xả vào đoàn tù làm cho nhiều người bị ngất xỉu phải đưa đi cấp cứu.
Sau Tết Mậu Thân 1968, anh Ngô Văn Tiết trong đoàn tù binh Trại giam Biên Hòa, Đồng Nai bị đưa ra Trại giam tù binh Phú Quốc. Sau khi đoàn tù binh xuống máy bay, chúng dồn anh em xuống bãi cát dưới trời nắng gắt, rồi bắt ngồi thành một khối hàng 10, lính quân cảnh canh gác liên tục đánh đập, đấm đá. Vừa đánh, chúng thay nhau liên tiếp đưa ra các câu hỏi vớ vẫn rồi tự trả lời “Mày bị bắt ở đâu?”, anh em trả lời “ở Huế”. Chúng nói “Nhà bác tao” và thế là đánh. Đứa khác lại hỏi “Mày bị bắt ở đâu?”, anh em trả lời “tại Sài Gòn”, chúng lại nói “Nhà chị tao”, đánh tiếp... Cứ như thế, hỏi - đánh diễn ra với từng người... Anh em cúi mặt, chúng kiếm cớ gây sự “Chúng mày ra đảo còn ngồi nghĩ cách trốn hả?", thế là lại đánh. Anh em nhìn ngang chúng cũng đánh, nhìn lên chúng cũng đánh.
Anh Lê Văn Khang, trong đoàn tù binh Trại giam Biên Hòa, Đồng Nai, bị đưa ra đảo đầu năm 1969. Anh cũng bị bọn quân cảnh, trong đó có tên Trung úy Hiển, đánh đập dã man do không cúi đầu, nhìn xuống đất mà đã “dám nhìn chúa đảo” trong khi điểm danh. Sau đó anh bị giam vào chuồng cọp suốt một tháng.
Anh Cao Văn Tân thuộc đoàn tù binh Trại giam Phú Tài, hơn 30 năm qua không bao giờ quên được câu nói của tên sĩ quan ngụy khi các anh xuống đảo: “Tù phiến loạn ngẩng đầu lên! Tao là trung úy kiêm trưởng ban điều hành trại giam Phú Quốc, đây là mồ chôn các con. Nếu còn sống, người chẳng ra người. Đây là thủ tục nhập trại”. Nói xong nó hô lính đánh đập các anh tàn nhẫn. Chưa hết, khi đưa các anh về trại giam, chúng bắt anh em nằm thẳng một hàng, ngửa mặt lên, cởi khuy áo ngực cho quân cảnh chạy trên người các anh từ đầu hàng đến cuối hàng. Sau đó, chúng dùng nước xà bông tưới lên mặt, lên người, lấy giày đinh đá, đạp các anh... đau đớn đến tột cùng.
Sau khi đánh đập tù binh một cách dã man để thỏa lòng dã thú, chúng dưa họ lên xe vận tải quân sự về Ban Chỉ huy trại giam để khám xét, làm thủ tục nhập trại và lại tiếp tục lên xe đến phân khu giam. Đến nơi, mỗi người phải chạy thật nhanh qua cổng, vừa chạy vừa đếm số thứ tự để chúng kiểm tra số tù. Phía trong sân hai hàng lính quân cảnh tay cẩm dùi cui, roi cá đuối khô đứng chờ sẵn, cứ mỗi người chạy qua chúng lại dùng dùi cui đánh vào đầu, hay quất roi cá đuối vào lưng, chúng gọi là “nhập môn đợt 2".
Màn “nhập môn đợt 3” được bọn chúng thực hiện khi tù binh vào đến sân phân khu giam. Tù binh bị phạt va, thụt dầu, hít đất, đánh đập và bị tra hỏi, nhất là những đợt tù binh bị đưa ra trại giam sau chiến dịch Mậu Thân 1968. Chúng tra hỏi ai là những người bị bắt trong chiến dịch Mậu Thân. Do không nắm rõ âm mưu địch nên tù binh đã thành thật khai báo và bị chúng đánh đập dã man nhằm trả thù cho đồng đội của chúng bị giết chết trên chiến trường. Một số tù binh những ngày đầu tiên đến Phú Quốc đã mang thương tích đẩy người, đầu bị đánh đến trọng thương, thần kinh vô cùng căng thẳng.
Ngoài việc hành hạ tù binh về thể xác, chúng còn lấy tất cả đồ đạc của tù bình, chỉ để lại cho họ một bộ quần áo đang mặc trên người. Nhờ tổ chức đã kịp thời cử tù binh cũ giúp đỡ và hỗ trợ về mặt tinh thần nên dần dần anh em mới thích nghi với môi trường trại giam để vượt qua được những ngày căng thẳng đầu tiên khi nhập trại.



