Trần Anh Điền
Ông Trần Anh Điền, tên khai sinh là Trần Văn Điền, bí danh Thọ, Ba Vũ, tên thường dùng là Tám Bé, sinh ngày 15/02/1922 tại làng Mỹ Xương, tổng Phong Mỹ Nam, quận Cao Lãnh, tỉnh Sa Đéc (nay là xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), trong một gia đình bần nông, không có đất, phải làm tá điền cho địa chủ.
Vào cuối tháng 7 đầu tháng 8/1945, ông được ban học của là Nguyễn Ngọc Thành đề nghị gia nhập và vận động thanh niên trong xóm chợ gia nhập Thanh niên Tiền phong ấp Mỹ Hưng. Ngày 25/8/1945, ông cùng với hai đồng chí treo cờ đỏ sao vàng và tham gia biểu tình giành chính quyền ở làng Mỹ Xương.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông vào Thanh niên Cứu quốc và làm giáo viên dạy Bình dân học vụ. Năm 1947, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, sau đó là Phó Bí thư Chi bộ dự bị xã, Thư ký Ban Chấp hành Thanh niên Cứu quốc xã, đến năm 1948 là Bí thư Chi bộ và Phó Chủ nhiệm Ủy ban Mặt trận Việt Minh xã.
Tháng 10/1948, ông là Huyện ủy viên dự khuyết, phụ trách hai xã Mỹ Xương, Mỹ Thành. Tháng 4/1949, ông là Huyện ủy viên chính thức. Tháng 7/1950, ông được điều động làm Bí thư Chi bộ xã Tân An. Cuối năm 1950, ông làm Trưởng đoàn cùng cán bộ máy quân dân chính các xã Bình Hàng Trung, Bình Hàng Tây, Mỹ Long, Mỹ Hiệp. Tháng 12/1950, ông bị địch bắt trong một trận càn và giam đến tháng 11/1951. Ra tù, ông được Huyện ủy chỉ định Chi ủy viên phụ trách đảng vụ Chi bộ xã Mỹ Xương. Sau đó phụ trách liên xã Mỹ Thọ, Mỹ Xương, Mỹ Hội, Mỹ Thành. Tháng 4/1954, ông được đề bạt Phó Bí thư Huyện ủy Cao Lãnh và phụ trách các xã vùng cù lao An Tịnh: Hòa An, Tân Thuận Tây, Tân Thuận Đông, Tân Tịch, Tịnh Thới. Hiệp định Giơnevơ có hiệu lực, ông rút vào hoạt động bí mật.
Đầu năm 1955, ông là Bí thư Huyện ủy Cao Lãnh. Tháng 11/1955 ông được đề bạt Tỉnh ủy viên dự khuyết, phụ trách giao liên, tản cư tỉnh Sa Đéc. Sau đó là Tỉnh ủy viên chính thức, Trưởng Ban Binh vận tỉnh và phụ trách hai địa bàn thị xã Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh. Đây là những năm ông hoạt động bí mật, gian khổ, lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng chống lại các âm mưu, thủ đoạn tàn ác của Mỹ - Diệm, như Chỉ dụ cướp đất 57, Luật 10-59...
Trung tuần tháng 11/1959, ông nhận nhiệm vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy, phụ trách công tác tổ chức, tuyên huấn và binh vận tỉnh Kiến Phong.
Tháng 4/1960, ông được Khu ủy Khu Trung Nam Bộ chỉ định Bí thư Tỉnh ủy Kiến Phong. Ông có công lớn cùng tập thể Tỉnh ủy duy trì và phát triển lực lượng vũ trang tỉnh nhà, phát động phong trào nổi dậy phá thế kềm kẹp, giải phóng vùng nông thôn, làm tiền đề cho phong trào Đồng Khởi toàn Khu.
Từ tháng 6/1964 đến tháng 3/1965, ông đi học trường Nguyễn Ái Quốc do Trung ương Cục miền Nam tổ chức và trở về tiếp tục nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy.
Tháng 4/1967, ông được đề bạt Khu ủy viên dự khuyết Khu Trung Nam Bộ rồi làm Khu ủy viên chính thức, phụ trách Trường Đảng Trần Phú (Khu Trung Nam Bộ). Năm 1972, ông là Ủy viên Thường vụ Khu ủy phụ trách Tổ chức, Tuyên huấn, Kiểm tra Khu ủy. Cuối năm 1974, ông được Khu ủy phân công về tỉnh Sa Đéc, trực tiếp chỉ đạo việc phá thế kềm kẹp, mở vùng giải phóng ở vùng yếu hữu ngạn sông Tiền, cùng Tiểu đoàn 502 vào tiếp quản thị xã Sa Đéc sáng ngày 01/5/1975.
Đầu năm 1976 giải thể Khu và thành lập các tỉnh mới, ông về làm Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp. Ông và Tỉnh ủy chủ trương tiến công khai thác Đồng Tháp Mười, thay đổi tập quán làm lúa mùa, chuyển lên làm lúa hai vụ, góp phần đưa Đồng Tháp từ tỉnh thiếu ăn lên tự túc lương thực và có dư cung cấp cho trên.
Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ V năm 1982, ông được bầu Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng và tiếp tục giữ trọng trách Bí thư Tỉnh ủy cho đến lúc về hưu năm 1986. Do có nhiều cống lao với cách mạng, ông được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, Huân chương Hồ Chí Minh và nhiều huân chương, huy chương cao quý khác.
Ông ngụ tại phường Hòa Thuận, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Tuy tuổi cao, ông vẫn nhiệt tình theo dõi tình hình, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Tháp và Đảng ủy nơi ông sinh hoạt.



