Trần Bạch Đằng tham gia cách mạng từ khi 17 tuổi. Năm 1946, ở tuổi 20, ông được giao phụ trách tờ “Chống Xâm Lăng” của Thành ủy Sài Gòn
Trần Bạch Đằng tham gia cách mạng từ khi 17 tuổi. Năm 1946, ở tuổi 20, ông được giao phụ trách tờ “Chống Xâm Lăng” của Thành ủy Sài Gòn. Năm 1951, ông làm tổng biên tập báo “Nhân Dân Miền Nam” của Xứ ủy Nam Bộ. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của ông đều gắn với tuyên huấn và báo chí. Sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, ông là một trong những người viết báo khỏe nhất, chuyên nghiệp nhất dù ông chưa bao giờ tự nhận mình là nhà báo. Có ngày, trên các báo xuất hiện tới 4 bài viết của ông. Nhà báo Lê Phú Khải từng đặt ra câu hỏi về vấn đề này trong bài viết “Tác giả Trần Bạch Đằng viết báo như thế nào?”. Ông viết: “Tham gia một số khóa đào tạo phóng viên cũng như các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí ngắn hạn do Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh mở, tôi thường nhận được câu hỏi: "Làm thế nào mà ông Trần Bạch Đằng lại có thể viết được nhiều bài báo cùng một lúc trên nhiều tờ báo từ Nam chí Bắc trong một thời gian liên tục hàng chục năm nay?". Từ năm 1998 đến năm 2007, Trần Bạch Đằng đã viết 977 bài báo, trong đó có 913 bài là thuộc thể loại chính luận.
Trần Bạch Đằng viết hầu như ở tất cả các thể loại, bất kỳ thể loại nào độc giả cũng thấy ông như “người trong cuộc”.
Là một nhà chính trị, ông luôn quan tâm đến đến những vấn đề nóng hổi của xã hội. Trước những sự kiện lớn của đất nước ông đều có những bài viết phân tích, nhận định, bày tỏ thái độ và đề xuất những giải pháp, kiến nghị. Những vấn đề chính trị mà ông quan tâm rất rộng từ dân chủ xã hội, vấn đề Đảng cầm quyền, quân đội với kinh tế thị trường, hội nhập văn hóa, nhà nước và kinh tế thị trường, đấu tranh tư tưởng v.v… Tất cả những bài viết của ông không chỉ nêu thực trạng của vấn đề mà ông luôn luôn là người có những kiến giải, đề xuất rất sâu sắc. Trong bài viết “Dân chủ nội bộ và dân chủ xã hội”, ông đã thẳng thắn chỉ ra: “Đảng cầm quyền phải công khai trước quần chúng – đó là một nguyên tắc. Sinh hoạt nội bộ thu hẹp trên những việc đơn thuần chỉ liên quan đến nội bộ mà không ảnh hưởng đời sống xã hội – tất nhiên ta không nói những bí mật giữ gìn của đất nước(1)”. Và, ông đi đến kết luận: “Một đại biểu trẻ ở một đảng bộ, trong tham luận nêu vấn đề “nên có đối thoại giữa Đảng và thanh niên”, một cán bộ lãnh đạo bác liền: không thể có đối thoại như vậy; đảng không đối thoại với thanh niên! Không có đối thoại thì chỉ có độc thoại, điều trái với quy luật của dân chủ. Không có dân chủ, không thể có đổi mới tư duy(2)”.
Trong bài viết “Để nghị quyết bước ra khỏi phòng họp”, ông cho rằng bản lĩnh của một chính Đảng không chỉ ở việc đánh giá đúng tình hình, đề ra biện pháp khắc phục mà quan trọng nhất là “thực hiện cái gì đã quyết”, tức “nói đi đôi với làm”, không để nghị quyết chỉ là nghị quyết và ông kết luận: “Nghị quyết trong phòng họp. Quán triệt nó không phải ở một phòng họp khác(3)”.
Là một nhà chính trị nhưng những bài viết của Trần Bạch Đằng về kinh tế lại vô cùng sâu sắc và dễ hiểu. Ông như người thổi hồn mình vào những vấn đề tưởng chừng như khó hiểu này để mọi người đọc với những trình độ khác nhau đều có thể hiểu. Là một nhà lãnh đạo nên ông có nhiều điều kiện đi đến các nơi tìm hiểu và có nhiều thuận lợi trong tiếp cận vấn đề. Có lẽ cũng chính vì vậy mà những bài viết của ông bàn về phát triển nông thôn, về kinh doanh, về du lịch, tiền lương… luôn cuốn hút người đọc. Trong bài viết với tựa đề “Phát triển nông thôn: lối đi rộng, cánh cửa hẹp” ông đã cổ vũ và khuyến khích cho sản xuất lớn trong nông nghiệp. Nhìn thấy những chính sách như “cánh cửa hẹp” hạn chế người nông dân tích điền và làm giàu, ông đã viết những dòng đầy hóm hỉnh: “Lối đi rộng, cánh cửa còn hẹp là do “thợ” đóng khung cửa. Sợ nông dân giàu – cái sợ vô cớ nhưng tiêm nhiễm lối kỳ thị giàu nghèo thô thiển vẫn chưa chịu lùi về Viện bảo tàng – trở ngại chính cho sự giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn
Trong cuộc đời mình, Trần Bạch Đằng đã đi qua 19 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cho dù đi với mục đích gì: viếng thăm ngoại giao, trao đổi học thuật hay nghiên cứu kinh tế, đến đâu, ông cũng tìm hiểu cặn kẽ, hỏi chuyện, ghi chép lại tỷ mỷ những chuyện “mắt thấy, tai nghe’ cung cấp cho độc giả cái nhìn khách quan, trung thực và đầy thú vị về những vùng đất mà mình chưa có điều kiện đặt chân tới. Điều đặc biệt, thông qua những bài viết về du ký của ông, người đọc hiểu biết thêm về những vùng đất mới, những đất nước mà hầu như ít người biết tới. Khi đến Kiribati, ông đã viết bài “Viết từ Kiribati” với lời đề tựa: “Một khu vực rất gần gũi với Việt Nam – Hoặc nói cách khác, chính Việt Nam là thành viên của khu vực đó – lại ít được dư luận nước ta chú ý. Và ngược lại khu vực này cũng ít hiểu biết về nước ta. Tôi nói đến Nam Thái Bình Dương(14)”. Qua ghi chép của ông, người đọc biết thêm về một vùng đất kỳ bí ở Nam Thái Bình Dương như Papua New Guinea với 452.000 km2 nhưng chỉ có 3.961.000 dân. Vậy mà đây là nước lớn nhất ở vùng này. Solomon rộng 30.300 km2 và chỉ có 367.000 người. Fiji rộng 18.000 km2 và có 777.000 dân. Tân Thế giới (cái tên ám ảnh với nhiều người Việt Nam, nơi Pháp lưu đày những nhà yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX) rộng 18.000 km2 và chỉ có 182.000 dân. Có những quốc gia nhỏ bé hơn như Tokelau chỉ 10 km2 và 1.500 dân, Nauru với 21 km2 và 10.000 dân, Tuvalu với 26 km2 và 9.500 dân… Và, có chi tiết thú vị trong chuyến đi này của ông, đó là Bộ trưởng Thương mại của một đảo quốc đã đề nghị hợp tác làm ăn với Việt Nam bằng cách đề nghị Việt Nam “nhập vỏ lon bia” của đất nước đó. Ngoài ra, ông còn viết rất nhiều các bài bình luận quốc tế được bạn đọc hoan nghênh.
Chủ đề trong các bài viết của Trần Bạch Đằng rất rộng, nhưng ở mỗi vấn đề, mỗi sự kiện, ông đều có cách thể hiện rất riêng không thể lẫn với người khác. Nhà báo Lê Phú Khải từng viết: "Những bài mà tôi đọc được trên các báo của tác giả Trần Bạch Đằng thì đúng là do tác giả tự tay viết, vì văn phong - nói nôm na là giọng văn - không thể lẫn với ai được". Ông cũng là tác giả có biệt tài rút title của bài viết rất ấn tượng. Chỉ cần nhìn vào tên bài bài viết đã có thể hình dung ra nội dung bên trong ấy là gì. Nhiều bài viết, những đề xuất, thái độ của tác giả được đưa ngay lên tên bài. Ví dụ: Phép nước phải nghiêm, Nên bớt hình thức, Nhất thiết phải hình thành thêm một tuyến đường bộ xuyên quốc gia, Cần một chính sách thích hợp với người Việt Nam sống ở nước ngoài… Nhưng có lẽ, đặc biệt nhất trong các bài viết của ông là luôn đi thẳng vào vấn đề, không “vòng vo tam quốc”. Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt, Giám đốc Nhà xuất bản Trẻ đã nhận xét rất chính xác “tác phong” này của ông: “Khi nói hay viết, Trần Bạch Đằng luôn trình bày thẳng những suy nghĩ của mình, không úp mở, quanh co; đi thẳng vào thực chất vấn đề; ghét khoa trương, kiểu cách(15)”.
Sự nghiệp báo chí của Trần Bạch Đằng thật to lớn, không phải chỉ ở số lượng tác phẩm đồ sộ - đương nhiên rồi - mà còn ở những vấn đề, nội dung mà ông đề cập trong mỗi bài viết luôn mang tính thời sự nóng hổi, giàu giàu tính chiến đấu. “Sức làm việc, sức sống của ông làm nhiều người kinh ngạc. Đó là niềm tự hào của làng báo thành phố Hồ Chí Minh và cả nước”./.



