Trần Bạch Đằng với sự nghiệp báo chí (1)
Tác giả An Huy trong bài viết với tựa đề “Nhà báo - hãy là điểm tựa vững chắc của niềm tin” đăng trên Nhà báo và Công luận đã viết: “Một bậc thầy lão luyện trong nghề báo từng bảo tôi rằng: Đẳng cấp của một nhà báo không phải là viết nhiều hay viết ít mà chính ở trách nhiệm với xã hội”. Trong suốt cuộc đời cầm bút của mình, Trần Bạch Đằng không chỉ là một nhà báo đầy trách nhiệm với xã hội mà ông còn viết rất nhiều ở mọi thể loại khác nhau.
Khi nói đến Trần Bạch Đằng, người ta nghĩ ngay đến một nhà cách mạng từng trải qua nhiều trọng trách, có nhiều công lao. Trên lĩnh vực báo chí, văn chương, hầu như ở thể loại nào ông cũng gặt hái được những thành công lớn từ văn chương, thơ, kịch v.v… Trong đó, lĩnh vực báo chí ông đã gắn bó từ buổi đầu tham gia cách mạng đến khi qua đời.
Trần Bạch Đằng tham gia cách mạng từ khi 17 tuổi. Năm 1946, ở tuổi 20, ông được giao phụ trách tờ “Chống Xâm Lăng” của Thành ủy Sài Gòn. Năm 1951, ông làm tổng biên tập báo “Nhân Dân Miền Nam” của Xứ ủy Nam Bộ. Cả cuộc đời hoạt động cách mạng của ông đều gắn với tuyên huấn và báo chí. Sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất, ông là một trong những người viết báo khỏe nhất, chuyên nghiệp nhất dù ông chưa bao giờ tự nhận mình là nhà báo. Có ngày, trên các báo xuất hiện tới 4 bài viết của ông. Nhà báo Lê Phú Khải từng đặt ra câu hỏi về vấn đề này trong bài viết “Tác giả Trần Bạch Đằng viết báo như thế nào?”. Ông viết: “Tham gia một số khóa đào tạo phóng viên cũng như các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ báo chí ngắn hạn do Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh mở, tôi thường nhận được câu hỏi: "Làm thế nào mà ông Trần Bạch Đằng lại có thể viết được nhiều bài báo cùng một lúc trên nhiều tờ báo từ Nam chí Bắc trong một thời gian liên tục hàng chục năm nay?". Từ năm 1998 đến năm 2007, Trần Bạch Đằng đã viết 977 bài báo, trong đó có 913 bài là thuộc thể loại chính luận.
“NGƯỜI TRONG CUỘC”
Trần Bạch Đằng viết hầu như ở tất cả các thể loại, bất kỳ thể loại nào độc giả cũng thấy ông như “người trong cuộc”.
Là một nhà chính trị, ông luôn quan tâm đến đến những vấn đề nóng hổi của xã hội. Trước những sự kiện lớn của đất nước ông đều có những bài viết phân tích, nhận định, bày tỏ thái độ và đề xuất những giải pháp, kiến nghị. Những vấn đề chính trị mà ông quan tâm rất rộng từ dân chủ xã hội, vấn đề Đảng cầm quyền, quân đội với kinh tế thị trường, hội nhập văn hóa, nhà nước và kinh tế thị trường, đấu tranh tư tưởng v.v… Tất cả những bài viết của ông không chỉ nêu thực trạng của vấn đề mà ông luôn luôn là người có những kiến giải, đề xuất rất sâu sắc. Trong bài viết “Dân chủ nội bộ và dân chủ xã hội”, ông đã thẳng thắn chỉ ra: “Đảng cầm quyền phải công khai trước quần chúng – đó là một nguyên tắc. Sinh hoạt nội bộ thu hẹp trên những việc đơn thuần chỉ liên quan đến nội bộ mà không ảnh hưởng đời sống xã hội – tất nhiên ta không nói những bí mật giữ gìn của đất nước(1)”. Và, ông đi đến kết luận: “Một đại biểu trẻ ở một đảng bộ, trong tham luận nêu vấn đề “nên có đối thoại giữa Đảng và thanh niên”, một cán bộ lãnh đạo bác liền: không thể có đối thoại như vậy; đảng không đối thoại với thanh niên! Không có đối thoại thì chỉ có độc thoại, điều trái với quy luật của dân chủ. Không có dân chủ, không thể có đổi mới tư duy(2)”.
Trong bài viết “Để nghị quyết bước ra khỏi phòng họp”, ông cho rằng bản lĩnh của một chính Đảng không chỉ ở việc đánh giá đúng tình hình, đề ra biện pháp khắc phục mà quan trọng nhất là “thực hiện cái gì đã quyết”, tức “nói đi đôi với làm”, không để nghị quyết chỉ là nghị quyết và ông kết luận: “Nghị quyết trong phòng họp. Quán triệt nó không phải ở một phòng họp khác(3)”.
Là một nhà chính trị nhưng những bài viết của Trần Bạch Đằng về kinh tế lại vô cùng sâu sắc và dễ hiểu. Ông như người thổi hồn mình vào những vấn đề tưởng chừng như khó hiểu này để mọi người đọc với những trình độ khác nhau đều có thể hiểu. Là một nhà lãnh đạo nên ông có nhiều điều kiện đi đến các nơi tìm hiểu và có nhiều thuận lợi trong tiếp cận vấn đề. Có lẽ cũng chính vì vậy mà những bài viết của ông bàn về phát triển nông thôn, về kinh doanh, về du lịch, tiền lương… luôn cuốn hút người đọc. Trong bài viết với tựa đề “Phát triển nông thôn: lối đi rộng, cánh cửa hẹp” ông đã cổ vũ và khuyến khích cho sản xuất lớn trong nông nghiệp. Nhìn thấy những chính sách như “cánh cửa hẹp” hạn chế người nông dân tích điền và làm giàu, ông đã viết những dòng đầy hóm hỉnh: “Lối đi rộng, cánh cửa còn hẹp là do “thợ” đóng khung cửa. Sợ nông dân giàu – cái sợ vô cớ nhưng tiêm nhiễm lối kỳ thị giàu nghèo thô thiển vẫn chưa chịu lùi về Viện bảo tàng – trở ngại chính cho sự giải phóng lực lượng sản xuất ở nông thôn(4)”.


