Trần Bạch Đằng với sự nghiệp báo chí (2)
Nợ công của Việt Nam mới chỉ tăng nhanh trong những năm gần đây, nhất là tăng cao trong giai đoạn 2011 đến nay. Thế nhưng, từ năm 2003, Trần Bạch Đằng đã cảnh báo những vấn đề hôm nay trở thành vấn nạn: “Một trụ sở khang trang mà dùng ngân sách của Trung ương là sự lãng phí lớn nhất – lãng phí đồng thời kém lòng tự trọng. Nền kinh tế và đời sống tại chỗ không liên quan gì đến vẻ lộng lẫy của một trụ sở. Việc này, Bộ tài chính đã nhiều lần nhắc nhở. Còn tham nhũng nữa (….) Đừng để con cháu trách cứ thế hệ chúng ta nợ nần chồng chất và bắt con cháu phải trả…(5)”.
Chống tham nhũng có lẽ là đề tài mà ông giành rất nhiều tâm sức và trí tuệ - và cả nỗi niềm trăn trở trong đó. Những năm tham nhũng mới chỉ như “ngứa ghẻ” “mon men” tiến vào cửa các cơ quan công quyền, bằng mẫn cảm của một nhà chính trị, nhà báo lão luyện, Trần Bạch Đằng đã phát hiện ra điều này và lên tiếng cảnh báo rất khẩn thiết. Trong bài viết “Giải pháp tình thế chiến dịch “bàn tay sạch”” đăng trên Báo Phụ nữ số Xuân Giáp Tuất 1994 ông đã kiên quyết: “Giải pháp bàn tay sạch nghiêm túc. Nó phải loại trừ ngay từ xuất phát các toan tính bè phái, “thí tốt cứu tướng” to tiếng về chuyện nhỏ, cốt lo những vụ tày trời… Hoặc chúng ta hành động ngay bây giờ hoặc chẳng bao giờ(6)”.
Bài viết “Phiếm luận về tham nhũng và chống tham nhũng”, ông đã chỉ ra căn nguyên của công cuộc chống tham nhũng không hiệu quả: “Trong vài năm nay, tham nhũng xuất hiện ồn ào trên báo chí, trong thư tố giác, tại diễn đàn lớn – Quốc hội, Trung ương Đảng chẳng hạn – nhứt là trong chỉ thị, nghị quyết. Chưa lúc nào tham nhũng bị chửi thậm tệ như vừa rồi. Ông bà ông vải, tiên tổ, bà con, chú bác, cậu dì của tham nhũng bị lôi ra xài xể, tham nhũng bị hăm “bắn bỏ” mẻ răng, bị liệt vào hạng lậu, tim la, ung thư, si đa, bị buộc tội Việt gian, bị xem như chó, lợn… Thật hùng hổ. Thế nhưng, tham nhũng không nao. Nhiều lý do, mà một lý do “thuyết phục” hơn cả: trong những người hò hét diệt tham nhũng, đám tham nhũng nhận diện ra “người đồng hội đồng thuyền” với mình, đồng thời đăng đàn chống tham nhũng, thậm chí đảm đương chức vụ chống tham nhũng(7)” v.v…
Tiến sĩ Quách Thu Nguyệt đã từng viết: “Dân Nam Bộ thường nói Nam Bộ có ba chiến đấu viên họ Trần mà trí tuệ và những đóng góp cho thành phố nói riêng, Nam Bộ và cả nước nói chung đáng cho hậu thế ngưỡng mộ. Đó là Trần Văn Giàu, Trần Văn Trà và Trần Bạch Đằng(8)”. Là một chiến sĩ, hẳn nhiên ông là chiến sĩ xung kích trên mặt trận chống tham nhũng này bằng ngòi bút “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.
Chuyên mục “Câu chuyện thứ tư” trên Báo Thanh niên là mục ông gắn bó rất lâu dài qua các năm 1994, 1995, 1996, 1997, 2000, 2001 và 2003. Trong chuyên mục này, ông viết rất nhiều bài về thể thao mà chủ yếu là phân tích, mổ xẻ và góp ý kiến một cách đầy trách nhiệm với mong muốn xây dựng nền thể thao Việt Nam vững mạnh, tiên tiến. Trong bài viết “Sự cố các giải vô địch bóng đã nhi đồng” ông lên án gay gắt bệnh thành tích trong thể thao nên mới dẫn đến những gian lận trong bóng đá, kể cả ở giải nhi đồng: “Bệnh thành tích đã xâm phạm trắng trợn đến giải bóng đá nhi đồng, xâm phạm đến lòng mến mộ của đông đảo khán giả(9)”.
Là một nhà lãnh đạo, sau này trở thành cây bút thường xuyên của Báo Công an Thành phố, Trần Bạch Đằng luôn có nhiều bài viết bàn về lực lượng công an. Trong bài viết “Về hai chữ công an”, ông đã lý giải về sự khác biệt giữa công an của chế độ ta khác so với những người làm cùng nhiệm vụ này ở các chế độ khác. Ông viết: “Trong tất cả các bộ phận chuyên chính của Nhà nước công nông, không tổ chức nào mang tính chất tế nhị bằng công an. Tại sao? Mọi chế độ đều có ngành công an – dù tên gọi là gì – và ở ta, suốt thế kỷ thực dân thống trị, danh từ công an đương nhiên đồng nghĩa với đàn áp khốc liệt, rình rập, áp bức, hà hiếp, tham nhũng, vượt lên mọi luật pháp do chính giai cấp tư sản quy định… Đặc biệt, dấu ấn công an ngụy ở Sài Gòn đóng khá sâu vào ký ức của người dân mà không ít là nạn nhân trực tiếp của chúng ở mức này hay mức khác(10)”. Có lẽ ông là người đầu tiên đề cao văn hóa, tri thức của một chiến sĩ công an. Theo ông: “Một thành phố công nghiệp lớn, trong thời bình đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ ngành công an nhiều điều kiện nghiêm khắc. Có tư tưởng, tinh thần và đạo đức tốt phải có tác phong tốt – tác phong văn minh. Cho nên, văn hóa trở thành một trong những điều kiện hàng đầu của một người lấy ngành công an làm sự nghiệp cách mạng. Đánh địch hay phục vụ quần chúng, với người công an, đều nhất thiết phải kết hợp lòng dũng cảm với tri thức – dũng cảm một cách tri thức(11)”. Sau sự kiện Năm Cam, trong bài viết viết “Hiên ngang đứng dưới cờ trung hiếu”, ông đã thẳng thắn lên án và chỉ ra những “con sâu” trong lực lượng công an: “Tội phạm thì thời nào cũng có, mặt trái của kinh tế thị trường tăng thêm cường độ của tội phạm - ở đây, điều xã hội bị đánh động là bởi sự có mặt của một số người trong hàng ngũ công an và bảo về pháp luật trong số tội phạm, kể cả quan chức cấp cao. Hiện thực ấy khiến mọi người đau lòng và chiến sĩ trong ngành không buồn phiền gì về lời lẽ trách cứ của đồng bào bởi hết sức đơn giản, không thể không trách cứ(12)”. Và, ông đã chỉ ra những khó khăn khi “viên đạn bọc đường” bắn xuyên thủng vào mỗi chiến sĩ công an: “Giữ gìn phẩm chất trong sáng, đối với chiến sĩ Công an, ở một bộ phận nào đó và ở một cấp nào đó thực tế là một thử thách gay gắt. Đôi khi không chủ tâm nhận hối lộ hay bao che cho tội phạm để nhận tiền nhưng kẻ xấu vẫn tấn công, bỏ tiền vào túi, ve vãn bằng các buổi nhậu, cung hiến nhà cửa, tài khoản để du hý trong và ngoài nước, học phí cho con ở những nơi sinh hoạt đắt đỏ nhất, giăng lưới mỹ nhân kế, thông qua vợ con v.v…(13)”.
Rất nhiều những bài viết của ông về lực lượng công an sau này đã được đăng trong cuốn sách “Thanh kiếm và lá chắn”.



