TRẦN CAN – ANH HÙNG CẮM CỜ TRÊN CỨ ĐIỂM HIM LAM
ANH HÙNG BẾ VĂN ĐÀN LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG
Bế Văn Đàn sinh năm 1931, là người dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Đồng chí sinh ra trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, cha làm thợ mỏ, mẹ mất sớm, chú hoạt động cách mạng bị giặc Pháp bắt và giết hại, anh phải đi ở cho địa chủ từ nhỏ. Sau 5 năm đi ở, anh trốn về ở với dì và tham gia du kích.
Tháng 1-1949, Bế Văn Đàn xung phong vào bộ đội, tham gia nhiều chiến dịch. Trong từng chiến dịch, Bế Văn Đàn luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, vượt mọi khó khăn, gian khổ, ác liệt, kiên quyết chấp hành mệnh lệnh nghiêm túc, chính xác và kịp thời.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân ta lúc bấy giờ đang ở giai đoạn quyết liệt. Trong Chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954, Bế Văn Đàn được phân công làm liên lạc tiểu đoàn. Một đại đội của tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây ngăn quân Pháp ở Mường Pồn. Lúc đó, khi thấy lực lượng của Việt Minh ít, quân Pháp tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân ta đánh bại. Cuộc chiến đấu diễn ra căng thẳng và quyết liệt, quân Pháp liều chết xông lên, quân ta kiên quyết ngăn chặn chốt giữ.
Nhận lệnh cho đại đội quyết tâm giữ ở Mường Pồn bằng bất cứ giá nào, tạo điều kiện các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện các chủ trương của chiến dịch. Mặc dù Bế Văn Đàn vừa đi công tác về nhưng khi thấy chỉ huy thông báo, anh đã xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Anh dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc xuống đại đội truyền đạt mệnh lệnh:“Bằng mọi giá phải giữ chân địch để đơn vị lớn triển khai lực lượng được kịp thời chu đáo”. Trận đấu ngày càng diễn ra ác liệt hơn, anh được lệnh ở lại đại đội chiến đấu cùng đồng đội.
Quân Pháp phản kích lần thứ ba, mở đường tiến, đại đội quân ta bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng bị thương, nhưng anh vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng không bắn được vì không có chỗ đặt súng.
Trong tình thế hết sức khẩn trương, anh không ngần ngại chạy lại cầm hai chân khẩu trung liên đặt lên vai mình và hô đồng đội bắn. Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn nói: “Kẻ thù trước mặt, bắn chết chúng nó đi, trả thù cho đồng đội”. Pù nghiến răng nổ súng quật ngã hàng chục tên, địch hốt hoảng bỏ chạy, đợt phản kích của chúng bị bẻ gãy.
Ta tiếp tục giữ vững trận địa chiến đấu. Nhưng trong thời gian đứng làm giá súng Bế Văn Đàn bị 2 vết thương nữa và anh đã hy sinh khi hai tay còn ghì chặt chân súng trên vai mình. Tấm gương dũng cảm của Bế Văn Đàn đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận hăng hái thi đua giết giặc lập công, góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.
... “Ngã xuống ở Mường Pồn anh đâu biết có mùa cam,
Anh chỉ biết có dây thép gai đồn giặc
Tôi yêu những con người chưa hình dung ra hạnh phúc,
Lúc đồng đội cần dẫu chết không từ nan”…
(Tác giả: Chế Lan Viên)
Hình ảnh Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng trở thành một trong những tấm gương tiêu biểu trong Quân đội ta. Tại đại hội mừng công của đơn vị, Bế Văn Đàn được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, được bình bầu là Chiến sĩ thi đua số 1 của tiểu đoàn. Với thành tích đặc biệt xuất sắc, ngày 31-8-1955, Bế Văn Đàn được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì.
Tháng 5-1959, Đảng, Nhà nước và nhân dân địa phương đã tiến hành di chuyển hài cốt của Bế Văn Đàn tại Mường Pồn, nơi anh hy sinh quy tụ về Nghĩa trang Liệt sĩ A1 - Nghĩa trang cấp Quốc Gia của tỉnh Điện Biên.
Anh hùng Bế Văn Đàn đã chiến đấu, hy sinh góp phần làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Để tưởng nhớ và tri ân công lao của Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn, tên anh được đặt tên cho nhiều con phố và ngôi trường ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước. Di tích Mường Pồn nơi anh hùng Bế Văn Đàn hy sinh luôn là địa chỉ đỏ để giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần chiến đấu quả cảm của thế hệ cha ông ta trong công cuộc đấu tranh, chống giặc ngoại xâm, bảo vệ quê hương đất nước.
TRẦN CAN – ANH HÙNG CẮM CỜ TRÊN CỨ ĐIỂM HIM LAM
Trần Can sinh năm 1931, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Từ nhỏ Trần Can đã rất thích đi bộ đội để được cầm súng giết giặc, cứu nước. Lớn lên, ba lần anh xung phong tình nguyện nhập ngũ nhưng vì sức khỏe yếu, các đơn vị bộ đội đều từ chối. Mãi đến lần thứ tư anh mới được chấp nhận.
Từ khi vào bộ đội, Trần Can chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí. Trong mọi tình huống dù khó khăn ác liệt, anh đều kiên quyết dẫn đầu đơn vị vượt lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Năm 1952, sau khi chỉnh huấn chính trị, biên chế, trang bị, các đại đoàn cơ động được biên chế thống nhất theo quy định của Bộ Tổng Tham mưu. Mỗi tiểu đoàn bộ binh có một đại đội chủ công gồm bốn trung đội. Việc học tập quân sự cũng thống nhất theo tài liệu của Bộ Tổng Tham mưu.
Về học đánh công sự kiên cố, các đơn vị học đánh cứ điểm kiên cố, có sinh lực trên dưới một tiểu đoàn địch, học đánh vận động tiêu diệt những binh đoàn cơ động lớn. Có diễn tập thực binh, bắn đạn thật, phân đội hỏa lực và binh chủng phối thuộc. Có thể nói, chỉnh huấn và chấn chỉnh về tổ chức, huấn luyện năm 1952 là bước ngoặt đối với việc xây dựng lực lượng vũ trang. Trung đoàn 209 Đại đoàn 312 của Trần Can đi vào chiến dịch Tây Bắc trong niềm tin và sức mạnh mới.
Tây Bắc là chiến trường có tầm quan trọng về chiến lược trên chiến trường Bắc Bộ lúc đó. Chiếm Tây Bắc, địch đã tạo ra thế thường xuyên uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc của ta. Giải phóng được Tây Bắc, chúng ta sẽ mở rộng và củng cố được căn cứ địa Việt Bắc. Mục đích của chiến dịch này là tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhân dân Tây Bắc, giải phóng một bộ phận đất đai. Ý nghĩa của chiến dịch lớn lao là vậy, Trần Can nóng lòng được tham gia.
Ngày 10-10-1952, toàn đại đoàn vượt sông Thao chia làm hai cánh. Một cánh gồm Trung đoàn 141 vào phối thuộc vượt Khe Lóng, nhanh chóng tiến vào tiêu diệt vị trí Sài Lương. Cánh thứ hai, Trung đoàn 209 của Trần Can theo hướng Bắc vượt đèo Nậm Bằng cao gần 2.000m, dọc đường tiêu diệt địch ở La Hầu Pèng, tiến vào bao vây tiêu diệt địch ở Nậm Mười, bản Tủ, bản Hoa.
Trận đánh ở bản Hoa, Trần Can làm nhiệm vụ xung kích, vừa có lệnh xung phong anh đã nhanh chóng cùng tiểu đội vượt qua cửa mở, dùng thủ pháo diệt một ụ súng địch rồi lập tức phát triển vào bên trong. Khi tiểu đội bị thương vong hết, Trần Can tự động sáp nhập với hai đồng chí của tiểu đội khác lập thành một tổ tiếp tục chiến đấu. Trần Can dẫn đầu tổ, diệt luôn ba ụ súng nữa và đánh thẳng vào sở chỉ huy địch, diệt cơ quan đầu não, bắt sống 22 tên, thu 17 súng các loại.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị Trần Can được giao nhiệm vụ tiêu diệt cứ điểm Him Lam. Him Lam là một trung tâm phòng ngự kiên cố nhất của địch. Vị trí này thuộc phân khu trung tâm, cách Mường Thanh 2,5km, có nhiệm vụ bảo vệ phân khu trung tâm Mường Thanh và án ngữ con đường từ Tuần Giáo đến Điện Biên Phủ.
Binh lực ở Him Lam có một tiểu đoàn lê dương tăng cường thuộc Lữ đoàn Lê dương số 13. Him Lam trước có năm mỏm, nay địch dùng máy ủi san đi còn ba mỏm, hình thành ba cứ điểm vừa yểm hộ cho nhau, vừa có thể độc lập tác chiến. Hỏa lực chia làm nhiều tầng khá vững chắc, nhiều hỏa điểm chéo, hỏa điểm lướt sườn. Giữa các hỏa điểm có hàng rào và bãi mìn ngăn cách. Hệ thống công sự phụ có bãi mìn và dây thép gai rộng từ 100m đến 200m. Cứ điểm nào cũng có hầm ngầm và lực lượng phản địch.
Tiến công một cứ điểm nằm trong tập đoàn cứ điểm mạnh đặt ra cho chỉ huy những vấn đề mới. Trước hết là trinh sát. Sau khi nhận nhiệm vụ, ngày nào đơn vị cũng đi trinh sát thực địa. Ban ngày lên đài quan sát để nghiên cứu Him Lam, ban đêm cán bộ tiếp cận. Muốn hiểu Him Lam cả ngoại vi và cả tung thâm phải đi từ nhiều hướng trong nhiều thời gian khác nhau rồi tổng hợp tình hình từ nhiều nguồn mới có thể kết luận chính xác.
Địch dò biết ý định của ta nên tổ chức phản kích quyết liệt. Đêm 11-3, ta vừa đào xong tuyến xuất phát xung phong thì sáng ngày 12 địch huy động bộ binh có xe tăng yểm hộ và xe xúc đất ra lấp. Lính công binh địch cài mìn trên những đoạn hào ta đã đào rồi dùng xe ủi lấp lại. Lấp xong, chúng cho pháo bắn, cho máy bay ném bom từ tuyến xuất phát xung phong tới cửa rừng. Các tuyến xuất phát xung phong của các mũi đều bị lấp.
Tối 12-3, tranh thủ sương mù chúng ta lại đào. Anh em phải gỡ từng quả mìn, moi đất lẫn với cành cây trên từng đọan hào. Địch dùng súng cối, pháo bắn chặn quyết liệt.
Ban ngày địch lấp hào, ban đêm chúng dùng đèn pha, pháo sáng cho những phân đội nhỏ tuần tiễu và đặt vọng gác ở ngoài hàng rào để ngăn chặn trinh sát ta thâm nhập. Trong hai đêm liền, các chiến sĩ ta không sao tiếp cận được chân rào. Nhiều chiến sĩ quân báo dũng cảm của chúng ta đã bị thương vong. Nhưng đến lúc này tình hình tung thâm Him Lam ra sao chúng ta vẫn chưa hiểu cụ thể. Không thể thông qua một kế hoạch tiến công khi chưa biết thật cụ thể kẻ thù. Chỉ huy đại đoàn giao nhiệm vụ cho trung đội trưởng quân báo phải tổ chức bộ đội thật gọn nhẹ, ngụy trang bằng đất. Lực lượng này sẽ tiến ra cửa rừng vào lúc địch đi lấy nước. Quan sát đường đến trận địa phục kích, phân công cho từng tay súng. Chọn độ 10 người có sức khỏe để bắt tù bình. Cử hai người vật một tên. Hẹn ba ngày phải hoàn thành.
Đúng ba ngày sau, trung đội trưởng quân báo dẫn lên sở chỉ huy đại đội tên Thiếu uý Giắc Cơ (trong trận này quân báo đại đoàn đã diệt hơn một tiểu đội địch, bắt ba lính lê dương).
Thế là căn cứ vào những điều ta nắm được đối chiếu với lời khai của Giắc Cơ ta thấy lời khai của tên này có thể tin cậy được.
17 giờ 10 phút ngày 13-3-1954, pháo của ta rót trúng Him Lam. Trong lúc pháo ta bắn áp chế, mọi việc đều diễn ra thuận lợi. Nhưng khi địch ở Him Lam hồi tỉnh sau cơn choáng váng và pháo địch phản pháo thì tình huống của ta trở nên khó khăn. Trước hết là hào giao thông chỗ này vừa nông lại không có hào nhánh nên vận động trong hào rất khó khăn, hỏa lực tiểu đoàn không thể nào vượt qua đội hình xung kích lúc này đã đứng chật trong lòng hào để chuẩn bị xung phong. Trước tình hình đó, phân đội trợ chiến của Tiểu đoàn 11 đã nhảy khỏi hào, bất chấp hỏa lực địch, tiến gần sát hàng rào nơi quy định cho trận địa hỏa lực tiểu đoàn. Phải bảo đảm cho bộc phá mở cửa. Càng chần chừ, thương vong càng cao.
17 giờ, Trung đoàn 141, các tổ hỏa lực đã lên sát đồn đang dùng hỏa lực bản thân kiềm chế lỗ châu mai, yểm hộ cho bộc phá mở cửa.
Trên hướng Trung đoàn 909 đã chiếm lĩnh xong trận địa, hỏa điểm 1 và 2 của địch đã bị sơn pháo ta tiêu diệt ngay từ phút đầu, hỏa điểm 3 và 4 vẫn bắn ra trên hướng cửa mở. Tổ ĐKZ của tiểu đoàn đã anh dũng tiêu diệt hai hỏa điểm này, 18 phút sau cửa mở thông, xung kích tràn lên đánh thẳng vào tung thâm.
Tiểu đội trưởng Trần Can chỉ huy tiểu đội nhanh chóng chiếm lô cốt đầu cầu. Chiếm xong, Trần Can chỉ huy một tổ đánh lô cốt số 6 rồi đánh lên lô cốt cố thủ. Súng máy địch quét sát đất. Trần Can cho một tổ dùng thủ pháo bí mật tiến sau lô cốt và dùng tiểu liên bắn nghi binh thu hút hỏa lực địch về phía mình. Địch bắn phía trước, không đề phòng phía sau. Sau vài loạt thủ pháo, khẩu trung liên trong lô cốt cố thủ im bặt. Chớp thời cơ, Trần Can nhảy lên khỏi giao thông hào cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Bác Hồ trao tặng lên nóc lô cốt cố thủ của địch ở cứ điểm thứ ba. Đó là lá cờ đầu tiên quân ta cắm trên cứ điểm địch tại chiến trường Điện Biên Phủ, trong chớp đạn lá cờ như giục giã bộ đội xông lên diệt địch. Trần Can chỉ huy tiểu đội đánh vào bên trong đánh các ngách trong lô cốt, bắt sống tên quan ba lê dương. Các tổ khác đánh chiếm các lô cốt xung quanh.
Quân ta đang phát triển thì vấp phải một ổ đề kháng. Địch lợi dụng các bao cát bắn dọc theo hào. Các chiến sĩ dùng luôn một tù bình bắt nó gọi hàng. Một số tên địch ra hàng. Nhưng trên hướng phát triển của đơn vị vẫn còn một số tên địch ngoan cố chống cự. Hỏa lực ở đây quét là là mặt đất, Trần Can biết đây là hỏa điểm lợi hại. Anh đề nghị đánh bằng thuốc nổ. Trung đội trưởng đồng ý giao nhiệm vụ cho một chiến sĩ ôm bộc phá xông lên, chiến sĩ này đang tiến thì bị trúng đạn gục xuống, Trần Can định cử người thay thế thì chiến sĩ ấy đã vùng dậy. Đợi lúc mũi súng của địch quét sang hướng khác, anh trườn lên rồi vọt tiến về hầm ngầm. Một lát sau bộc phá nổ, hầm ngầm bị diệt, tiểu đội Trần Can bắt 25 tên, thu nhiều vũ khí. Him Lam, cụm cứ điểm mạnh nhất được phòng ngự hiện đại chưa từng có đã bị tiêu diệt.
Trong trận đánh điểm cao 507 khu trung tâm Mường Thanh, Trần Can đã dũng cảm dẫn đầu tiểu đội xông lên áp đảo địch, chiếm mỏm cột cờ. Địch bắn pháo dữ dội và cho quân đánh chiếm lại. Ta với địch giành giật nhau từng thước đất hết sức quyết liệt. Trần Can đã cùng đồng đội kiên quyết giữ vững và tiến công đánh bại 4 đợt phản kích của chúng. Địch lại xông lên trong đợt công kích thứ năm, chúng ném lựu đạn tới tấp trước khi xung phong.
Trần Can nhặt lựu đạn của chúng ném lại và chỉ huy anh em nhảy lên hào đánh giáp lá cà với địch. Cán bộ đại đội bị thương vong hết, bản thân anh cũng bị thương, nhưng Trần Can vẫn quyết tâm thay thế cán bộ đại đội chỉ huy đơn vị chiến đấu. Sáng hôm sau, Trần Can tập trung thương binh nhẹ lại động viên, chấn chỉnh tổ chức, củng cố lại trận địa. Địch lại phản kích dữ đội, hòng đánh bật quân ta giành lại cửa ngõ tiến vào Mường Thanh. Trần Can chỉ huy đơn vị đánh tan đợt phản kích của chúng, kiên quyết giữ vững trận địa tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh.
Trần Can đã hy sinh anh dũng khi chỉ huy bộ đội đánh vào sở chỉ huy của tướng Đờ Cát vào sáng ngày 7-5-1954 - ngày kết thúc Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
BÙI ĐÌNH CƯ- ANH HÙNG PHÁO BINH
Đồng chí Bùi Đình Cư sinh năm 1927, quê ở xã Việt Tiến, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Từ ngày nhập ngũ (năm 1949) đến năm 1954 đồng chí Bùi Đình Cư liên tục chiến đấu ở Binh chủng Pháo binh, đã trực tiếp tham gia 9 chiến dịch lớn ở Bắc Bộ, chiến dịch nào đồng chí Bùi Đình Cư cũng dũng cảm mưu trí trong chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc.
Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám (năm 1950), đơn vị Bùi Đình Cư phối hợp với đơn vị bạn đánh bốt Vên. Đồng chí Bùi Đình Cư trực tiếp bắn 4 quả pháo sát thương 1 trung đội địch, tạo điều kiện cho xung kích diệt đồn.
Trong chiến dịch Quang Trung (năm 1951), trận đánh đồn Yên Mô Thượng (Ninh Bình) vào giữa đêm mưa, trời tối đen như mực, không nhìn rõ mục tiêu, Bùi Đình Cư xung phong bò vào vị trí địch, bấm đèn pin soi vào từng lỗ châu mai cho pháo bắn. Địch bắn ra dữ dội về phía mình nhưng Bùi Đình Cư vẫn bình tĩnh, khôn khéo làm tròn nhiệm vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho đơn vị tiêu diệt gọn đồn.
Trong chiến dịch Hoàng Hoa Thám (năm 1952), khi đơn vị chuẩn bị tiến công Tu Vũ thì bị lộ, pháo phải di chuyển trận địa. Để bảo đảm an toàn cho pháo và kịp thời bắn chi viện cho bộ binh, đồng chí Bùi Đình Cư đã không do dự vác cả nòng súng cối nặng 101 kg chuyển tới vị trí mới cách 200m dưới hỏa lực của địch. Hành động dũng cảm của đồng chí đã cổ vũ toàn đơn vị nhanh chóng chấp hành nghiêm mệnh lệnh.
Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ, địch đã có hơn 100 ngày để hoàn chỉnh công việc củng cố Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sẵn sàng chờ đón một cuộc tiến công của quân ta. Lúc này, Na-va đã chuyển quân xuống thung lũng Điện Biên Phủ 12 tiểu đoàn và 7 đại đội gồm hơn 12.000 tên lê dương, lính dù thiện chiến. Chúng đóng thành 3 phân khu với 49 cứ điểm san sát trong lòng chảo Mường Thanh.
Sân bay Mường Thanh được khôi phục nhanh chóng. Ở Hồng Cúm, chúng đang cấp tốc mở một sân bay dự bị. Ngoài một phi đội chiến đấu gồm 14 máy bay các loại, trên sân bay còn có hàng chục máy bay một thân, hai thân. Máy bay khu trục và "pháo đài bay" B.26 từ Hà Nội và Viêng Chăn có thể bay đến bất cứ lúc nào theo yêu cầu của quân địch ở đây.
Lực lượng xe tăng của địch đến vài chục chiếc, nhưng về pháo binh chúng có tất cả 48 khẩu, gồm 2 tiểu đoàn 105mm, 1 đại đội 155mm và 22 đại đội cối 120mm.
So sánh lực lượng tại chỗ, ta có 5 đại đoàn (thiếu) với số quân xấp xỉ gấp ba lần địch. Về mặt tinh thần, ta hơn hẳn chúng, mặc dù hiện nay chúng còn đang hung hăng ôm ấp cuồng vọng sẽ đè bẹp quân ta trong một trận quyết định.
Địch chiếm ưu thế tuyệt đối về không quân và cơ giới. Pháo hạng nặng của chúng có nhiều hơn ta, bố trí tập trung, phơi cả ở cuối sân bay. Ngược lại, pháo binh ta bố trí phân tán trên các đỉnh núi cao kín đáo. Dù kho đạn pháo của ta còn mỏng, ít hơn địch nhiều lần, nhưng ta hơn địch ở chỗ biết cách sử dụng tập trung, thích hợp vào những trận then chốt, những đợt tấn công quyết định.
Từ tháng 12 năm 1953, Na-va bàn với Cô-nhi chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bắc Bộ cần lựa chọn một viên chỉ huy pháo binh có tài cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Vốn xuất thân từ pháo binh, Cô-nhi rất tinh tường, tiến cử ngay Sác-lơ Pi-rốt - một trung tá pháo binh. Pi-rốt nguyên là chỉ huy Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 69 ở châu Phi. Ông ta đã từng "xông pha" trong Đại chiến thế giới lần thứ hai trên chiến trường nước Ý, bị mất một cánh tay, cụt đến tận bả vai.
Ngày 7-12-1953, Pi-rốt hăm hở đáp máy bay lên Điện Biên Phủ. Ngày hôm sau, đơn vị pháo đầu tiên đã theo chân hắn đổ quân xuống sân bay Mường Thanh. Đó là tiểu đoàn 3 thuộc Trung đoàn Pháo thuộc địa số 10. Vài hôm sau, 1 tiểu đoàn thuộc Trung đoàn Pháo thuộc địa số 4 trang bị pháo 155mm bắn xa 16km được đổ tiếp xuống Điện Biên Phủ. Đây là đơn vị pháo binh thuộc loại sừng sỏ của địch. Tiếp theo là 2 đại đội súng cối 120mm với đủ các loại đạn chuyên dùng để chiến đấu ở rừng núi, sẵn sàng bắn sập mọi chiến hào của đối phương.
Pháo binh địch được bố trí tập trung ở Mường Thanh và Hồng Cúm có thể yểm trợ lẫn nhau và yểm trợ theo các cứ điểm xung quanh. Đầu tháng 2-1954, Pi-rốt có trong tay một kế hoạch hỏa lực mạnh mẽ với số đạn không hạn chế.
Bộ chỉ huy chiến dịch quyết định lần lượt nhổ 3 trung tâm đề kháng của địch ở phía Bắc và Đông Bắc tập đoàn cứ điểm, án ngữ hai con đường từ Sơn La và từ Lai Châu tiến vào Điện Biên Phủ là: Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo.
Đại đoàn 351 pháo binh được giao nhiệm vụ tập trung toàn bộ hỏa lực pháo binh mặt đất trực tiếp yểm hộ cho bộ binh diệt các cứ điểm, kiềm chế pháo binh địch, tập kích vào cơ quan chỉ huy, kho tàng và sân bay địch.
Him Lam là một trung tâm đề kháng đột xuất ở phía Đông Bắc tập đoàn cứ điểm nằm trên đường 41 gồm 3 quả đồi cách nhau từ 200 đến 300 mét rất kiên cố. Hỏa lực của địch rất mạnh và dày đặc gồm các loại súng máy, ba-đô-ca, phóng lựu, súng cối, súng cối lửa... Hệ thống chiến hào chi chít gồm nhiều tầng nối liền với các lô cốt ụ súng hình thành những điểm tựa vòng tròn.
Ngày 13-3-1954, không hiểu sao quân địch tỏ ra hốt hoảng hơn mọi ngày. Bầu trời Điện Biên Phủ ầm ầm tiếng máy bay địch bắn phá, trút bom xuống các cửa rừng, các nơi nghi có quân ta.
8 giờ, hai máy bay Đa-cô-ta vừa hạ cánh liền bị trúng đạn sơn pháo của 2 Đại đội 756 và 757 bốc cháy.
Đến 11 giờ, Đại đội cối 120mm của Bùi Đình Cư tiến hành bắn thử. Đạn pháo rơi trúng sân bay, thêm một máy bay nữa nát vụn.
Ngay sau đó, các đài quan sát pháo binh của Đại đoàn 351 báo cáo gấp có 2 xe tăng và 1 đại đội bộ binh địch vừa từ Mường Thanh tiến ra, đang đánh vào vị trí xuất phát xung phong của bộ binh tại Him Lam. Gần như cùng một lúc, Đại đoàn 312 và Đại đoàn 351 đề nghị Bộ chỉ huy chiến dịch cho dùng một bộ phận hỏa lực pháo binh để chặn quân địch, bảo vệ đường hào xuất phát xung phong. Các lực lượng xung kích của ta vẫn còn ở cả phía sau. Nếu để địch đánh chiếm được rồi dùng xe ủi đất lấp hết các chiến hào, chiều nay quân ta đánh vào Him Lam sẽ gặp khó khăn. Vì vậy, mặc dù chủ trương giữ bí mật hỏa lực pháo binh đến phút cuối cùng nhưng Bộ chỉ huy chiến dịch đã chấp thuận đề nghị trên. Đại đội Bùi Đình Cư được lệnh bắn 20 phát vào Him Lam.
Đạn pháo của ta rót xuống cứ điểm Him Lam và toàn bộ khu trung tâm sân bay Mường Thanh, sân bay Hồng Cúm. Lực lượng tham gia trận hỏa lực tập kích mở màn chiến dịch gồm cả 6 đại đội lựu đạn, 2 đại đội sơn pháo và 3 đại đội súng cối, cộng lại có hơn 40 khẩu cỡ pháo từ 75 đến 120mm.
Đòn phủ đầu của pháo binh ta khá mạnh và rất bất ngờ, gây cho địch thiệt hại đáng kể. Cụm cứ điểm Him Lam rung lên. Lá cờ ba sắc trên đỉnh cột cờ trúng đạn rơi xuống đất tơi tả.
Trong lúc lựu pháo ta dồn dập bắn vào Him Lam thì các đơn vị sơn pháo và cối trực tiếp chi viện cho xung kích đã chiếm lĩnh xong trận địa. Trước đó, khi thấy 4 chiến sĩ trong tổ khiêng cái nòng cối lỉnh kỉnh đi trong chiến hào, trung đội phó Bùi Đình Cư của Đại đội 114 đã một mình vác nòng súng cối nặng hơn 100kg chạy trên 3km và động viên anh em chạy theo. Đến trận địa, anh em lắp pháo ngay sát cứ điểm Him Lam. Trước mắt là những lô cốt, những ụ súng đã được anh em đánh số đang hiện lên lúc mờ, lúc tỏ.
5 khẩu cối 120mm của Đại đội 114 Bùi Đình Cư vừa giội xong 20 loạt đạn vào giữa cứ điểm 1 và 2. Bùi Đình Cư lệnh cho anh em bắn một cách chậm rãi những trái đạn từ sát hàng rào cứ điểm địch đến bờ sông Nậm Rốm. Bộ binh ta lợi dụng ngay những hố đạn sâu này để vượt lên mở cửa.
18 giờ 30 phút, các mũi xung kích nhất tề xông lên. Kể từ lúc này, pháo chi viện chuyển sang nhiệm vụ bắn kiềm chế pháo địch. Tuy nhiên có trận địa pháo địch đã ngóc dậy, bắt đầu chặn đứng mũi bộ binh đột kích trên hướng chủ yếu của ta tận dưới bờ suối, chưa thể vượt lên đánh cứ điểm 1. Đại đội 806 được lệnh dùng 40 viên đạn bắn chế áp trong 3 phút.
22 giờ, Tiểu đoàn bộ binh phát hiện ra khẩu trọng liên bí mật cơ động của địch tại cứ điểm 1 và 2, hỏa điểm khác tại cứ điểm 2 bắn lướt sườn, chặn quân ta trước cửa mở.
Súng cối của Trung đội Bùi Đình Cư, súng ĐKZ và Đại đội sơn pháo 75 lập tức ngắm bắn tập trung vào các hỏa điểm lợi hại trên cứ điểm 2. Tất cả các hỏa điểm của địch lần lượt tắt ngấm. Bộ binh ta tràn vào cứ điểm. Cuộc chiến đấu trong tung thâm cứ điểm Him Lam diễn ra trong 1 giờ đồng hồ.
23 giờ 30 phút, tin vui truyền đến mọi hầm pháo: Cứ điểm Him Lam đã bị tiêu diệt.
Các pháo thủ rộn ràng trong giây lát rồi trở lại vị trí chiến đấu của mình, vì nhiệm vụ kiềm chế pháo địch từ các nơi khác bắn về vẫn còn phải tiếp tục.
Theo kế hoạch, đêm tiếp theo, ngày 14-3 lực lượng pháo binh chi viện trực tiếp cho hai Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 tiến công cứ điểm Độc Lập. Đại đội Cối 114 của Bùi Đình Cư phải di chuyển gấp về phía Tây Bắc. Nhưng lệnh chuyển đến hơi chậm. Trời đã sáng hẳn, anh em hối hả lên đường, không kịp ăn cơm sáng.
Tại cứ điểm Độc Lập, gần đến giờ G theo kế hoạch, đơn vị ở hướng chủ yếu xin nổ súng. Chỉ huy trưởng trận đánh quyết định phải chờ pháo và súng cối đến đủ mới đánh bảo đảm phương châm "đánh chắc, tiến chắc". Nhưng Bùi Đình Cư vẫn cho lựu pháo tranh thủ bắn vào cứ điểm Độc Lập để phá hoại trước một phần công sự và uy hiếp tinh thần địch. Đó cũng là một sự thay đổi quy luật so với cách đánh Him Lam đêm trước dẫn địch đến chỗ bị động, lúng túng.
Trong thời gian kiên trì chờ đợi pháo, cối, anh em xung kích đã chủ động làm giúp trước nhiều công sự cho pháo. Vì vậy, khi đến trận địa, pháo binh chỉ cần đặt pháo là có thể nổ súng ngay.
Sang ngày 15-3, lúc 3 giờ 30 phút, lệnh tiến công cứ điểm Độc Lập được phát ra. Những khẩu lựu pháo, súng cối 120mm sau vài giờ im lặng, bất chợt lại lên tiếng.
Đại đội cối 120mm của Bùi Đình Cư quên hết mệt mỏi, đói rét, bắn rất trúng các mục tiêu đảm nhiệm. Bộc phá nổ tới đâu, đạn pháo lại nhịp nhàng nâng cao tầm bắn của mình lên tới đó.
3 giờ 55 phút, pháo ta được lệnh tạm ngừng vì cuộc chiến đấu bên trong cứ điểm Độc Lập bắt đầu. Đến 6 giờ 30 phút, sau khi chống cự một cách tuyệt vọng, gần 500 tên bỏ mạng, quân địch ở đây hạ vũ khí đầu hàng.
Trung đội trưởng Bùi Đình Cư được lệnh dẫn đầu trung đội vào căn cứ Độc Lập tháo 3 khẩu cối 120mm còn nguyên vẹn của địch vác ra ngoài. Mặc dù pháo địch bắn cản đường dữ dội nhưng Bùi Đình Cư cùng anh em đã mang pháo về đầy đủ, nguyên vẹn.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đồng chí Bùi Đình Cư đã được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, 42 lần được trung đoàn, đại đoàn khen và được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng một áo lụa. Ngày 31-8-1955, đồng chí Bùi Đình Cư được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba và danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân.
TRUNG TƯỚNG PHAM TUÂN – NGƯỜI ANH HÙNG BÌNH DỊ
Trong cảm nhận của rất nhiều người Việt Nam, Trung tướng Phạm Tuân không chỉ là người Việt Nam đầu tiên bước vào vũ trụ mà còn là một trong những biểu tượng tiêu biểu về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc chiến đấu của chúng ta chống lại giặc ngoại xâm trong thế kỷ 20. Với cá nhân tôi, ông luôn là một người lính chân chính, trong bất cứ tình huống nào vẫn luôn bảo tồn được đúng tính cách và phong độ "Bộ đội Cụ Hồ": Bình dị, nhân nghĩa, hướng thiện, luôn biết thực hiện nhiệm vụ của mình một cách đủ đầy và trọn vẹn nhất, đúng phẩm chất thiên phú của mình.
Cách đây hơn một năm, Trung tướng Phạm Tuân trong cuộc trò chuyện với tôi, đã tâm sự về “cái thuở ban đầu” trở thành người chiến sĩ: “Tôi có ngày nhập ngũ đặc biệt, đúng ngày 2-9-1965. Lúc đó cả nước ra quân, mình cũng trong đoàn quân chung thế thôi. Tôi không bao giờ nghĩ mình trở thành một phi công. Ngày xưa ở nông thôn có biết không quân là gì đâu, mơ ước trở thành một phi công nó khó lắm. Tôi chỉ nghĩ mình thành một người chiến sĩ. Khi đó tôi còn trẻ, chỉ nghĩ mình theo đoàn quân chiến đấu thế thôi, không nghĩ gì về sống chết cả. Ngày nhập ngũ cũng là kỷ niệm sâu sắc. Tôi không nghĩ sau này mình trở thành anh hùng, trở thành một vị tướng, lúc đó sẽ thế nào...”.
Con đường trở thành anh hùng của mỗi con người thường không ai giống ai. Có thể đôi khi người ta trở thành anh hùng như một sự tình cờ, do thiên thời bất chợt. Tuy nhiên, để không bỏ lỡ thiên thời thì chắc chắn vẫn phải cần những tố chất bẩm sinh, những yếu tố rèn luyện nào đấy. Cuộc đời ai cũng có cơ hội, nhưng không có những yếu tố bên trong mà mình chuẩn bị trước thì không thể nào tận dụng được cơ hội đó. Với Trung tướng Phạm Tuân, không hẳn số phận đã tạo cho ông những yếu tố ban đầu để ông có thể dễ dàng trở thành một phi công. Vào bộ đội rồi, khi dự thi tuyển phi công năm 1965 thì ông đã không được chọn do bị hở van tim bẩm sinh, nên đã phải sang Liên Xô học thợ máy ở thành phố Krasnodar.
Trong thời gian đó, Phạm Tuân vẫn không ngừng rèn luyện và tự hoàn thiện sức khỏe của mình đến mức, năm 1966, khi tổ chức cần tuyển chọn thêm một người đi học làm phi công lái máy bay, Phạm Tuân đã được chọn vì các bác sĩ Xô viết đã chứng thực rằng, cho tới thời điểm đó, sức khỏe của ông đã đạt chuẩn mực. Không nhiều người có thể hoàn thiện sức khỏe của mình như ông.
Sau này, khi tuyển phi công Việt Nam để đào tạo trở thành phi công vũ trụ, Phạm Tuân cũng không có tên trong danh sách ban đầu. Thế nhưng, khi được đưa vào để dự tuyển thì ông lại là người được chọn sau những vòng khám rất kỹ từ phía bạn. Trong quá trình tập bay vũ trụ, Phạm Tuân đã rèn luyện thêm cho mình tính kiên trì và tỉ mỉ. Ông kể: “Khi còn là phi công chiến đấu, thì phong cách hành xử lúc nào cũng sôi động. Khi học làm phi công vũ trụ, phải tự rèn luyện mình quy củ, ngăn nắp trở lại”.
Câu chuyện về những chiến công của Trung tướng Phạm Tuân trong Chiến dịch phòng không 12 ngày đêm năm 1972 đã được phổ cập rộng rãi từ nhiều năm nay. Vào đêm 27-12-1972, ông đã bắn rơi một máy bay B-52 của Mỹ, trở thành người đầu tiên bắn hạ được loại máy bay này từ trên không và trở về an toàn. Với thành tích này, ngày 3-9-1973, Thượng úy Biên đội trưởng Phạm Tuân đã được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Khi đó, ông thuộc quân số của Đại đội 5, Trung đoàn 921, Sư đoàn 371.
Tháng 7-1980, Phạm Tuân cùng với nhà du hành vũ trụ Xô viết Viktor Gorbatko bay vào không gian trên tàu Soyuz từ sân bay Baikonur (nay thuộc nước Cộng hòa Kazakhstan). Ông đã thực hiện nhiệm vụ của mình cho tới ngày 31-7 mới trở về, sau 142 vòng bay quanh trái đất. Trong toàn bộ thời gian trên quỹ đạo, Phạm Tuân đã tiến hành nhiều thí nghiệm khoa học. Ông cũng chụp ảnh Việt Nam từ quỹ đạo trái đất. Với thành tích này, ngay trong năm 1980, ông được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động Việt Nam, kèm theo Huân chương Hồ Chí Minh. Khi đó, Trung tá Phạm Tuân đang ở tuổi 33. Và cũng trong năm 1980, Phạm Tuân đã vinh dự trở thành một trong những người nước ngoài đầu tiên được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô, kèm theo Huân chương Lênin.
Cuối năm 2021, trong cuộc trò chuyện với tôi, trước câu hỏi “Làm sao để được trở thành Anh hùng?”, Trung tướng Phạm Tuân vẫn nói một cách rất giản dị: “Thì tôi vẫn nói rằng tôi may. Nhưng có lẽ may ở đây là nói theo cách đơn sơ, đúng ra là thời cơ. Thời cơ cho mọi người là như nhau, gặp địch như nhau, nhưng anh nào bản lĩnh tốt hơn thì tìm được chiến thắng. Cùng một trận chiến, có người đánh được có người không. Đó là do bản lĩnh. Bản lĩnh gồm ý chí và biết làm. Có ý chí, mong lắm, phải bắn được địch, nhưng làm thế nào bắn được nó? Anh chỉ có ý chí, quyết tâm thì không làm được. Ngược lại, anh tài thật nhưng không có ý chí, gặp địch sợ rồi thì làm sao được? Hai yếu tố kết hợp với nhau, ý chí và cách làm là hai yếu tố then chốt thể hiện bản lĩnh. Tôi nghĩ bản lĩnh đơn giản như thế thôi. Ý chí và cách làm, biết đánh và biết thắng”.
Trong cảm nhận của tôi, đã mấy chục năm nay, Trung tướng Phạm Tuân luôn kiên định đúng với nhận thức và tình cảm của ông, đón nhận mọi vinh quang và thách thức với sự bình tĩnh, điềm đạm tốt bụng đến lạ thường. Tới gần ông, không ai cảm thấy đó là một nhân vật lớn lao xa cách. Rất thông tuệ và hiểu biết sâu sắc công việc chuyên môn, nhưng Trung tướng Phạm Tuân không bao giờ có ý định làm cho người khác phải lóa mắt vì những kiến thức vũ trụ và không quân siêu đẳng của mình. Trong các câu chuyện kể với công chúng, từ ông luôn toát lên một phong cách bình dị và tự nhiên, như một sự dĩ nhiên phải làm, phải biết. Là Trung tướng, từng là lãnh đạo cao cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam, ông không làm cho ai cảm thấy mình trở nên nhỏ bé hơn khi ở gần ông. Trái lại, ngay cả những người bình thường như tôi khi ở gần ông cũng bất giác cảm thấy mình có thể tự tin mà sống, một khi mình cố gắng làm đúng với chức năng, nhiệm vụ và tâm tính hướng thiện của mình.
Cũng phải nói thêm rằng, Trung tướng Phạm Tuân đã luôn có được một gia đình hạnh phúc. Người phi công có sức hấp dẫn rất lớn trên phương diện xã hội đã luôn biết cách đối xử đầy gượng nhẹ và nâng niu với phu nhân của mình, một nữ bác sĩ quân y. Đã đi cùng nhau những chặng đường dằng dặc như thế, không phải lúc nào cũng chỉ là mật ngọt, hai con người này có lẽ tới lúc đã ngộ ra một điều căn bản nhất trong hôn nhân: Họ thực sự là những đồng đội cốt tử nhất của nhau. Tiếp xúc với bạn bè khi tuổi đã xế chiều, Trung tướng Phạm Tuân luôn có câu cửa miệng mỗi khi vui: “Các cậu ạ, bây giờ tớ mới hiểu ra rằng, vợ nói cái gì cũng phải!”.
GIÁO SƯ TRẦN ĐẠI NGHĨA – CỐNG HIẾN TRỌN ĐỜI CHO SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG VÀ NỀN KHOA HỌC NƯỚC
Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa - người con ưu tú của quê hương Vĩnh Long, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chính Minh vĩ đại- đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng và nền khoa học nước nhà.
Tâm nguyện suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân
Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa (tên thật là Phạm Quang Lễ), sinh ngày 13-9-1913 trong một gia đình nhà giáo nghèotại xã Chính Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long). Năm 1933, ông đỗ đầu cả hai kỳ thi tú tài (tú tài Tây và bản xứ).
Vì nhà nghèo, ông không thể ra Hà Nội học đại học và trở về làm giúp việc cho người Thư ký kế toán tòa sứ Mỹ Tho (trong thời gian này, ông tự học thêm về Luật). Đến tháng 9-1935, ông sang du học tại Pháp. Trong những năm tháng du học, mặc dù Chính phủ Pháp nghiêm cấm người dân thuộc địa học tại các trường dạy nghề vũ khí, hay vào làm ở các viện nghiên cứu, các nhà máy sản xuất vũ khí nhưng ông vẫn quyết tâm theo học, tốt nghiệp kỹ sư và làm việc tại các nhà máy điện khí, sản xuất máy bay, viện nghiên cứu vũ khí, kỹ thuật hàng không của Pháp, Đức; đồng thời là hội viên của Hội Việt Nam ái hữu tại Pháp.
Trong suốt quá trình này, ông đã bí mật nghiên cứu, tích lũy kiến thức về chế tạo vũ khí để trở về phục vụ đất nước. Đến năm 1946, sau 11 năm học tập, nghiên cứu, ông đã sưu tầm, ghi chép được hơn 30.000 trang tài liệu về vũ khí.
Tháng 9-1946, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã từ bỏ cuộc sống sung túc, đầy đủ ở châu Âu, theo Bác Hồ trở về nước, sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, khó khăn, hy sinh, gian khổ để hòa mình vào cuộc kháng chiến của dân tộc, với tâm nguyện suốt đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngày 5-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục Quân giới và đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa.
Đặt nền móng phát triển khoa học và công nghệ quân sự
Theo nhiều tài liệu ghi chép, khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai, để đối phó với kẻ thù có tiềm lực quân sự mạnh, ngoài huy động khối đại đoàn kết toàn dân tộc, việc nghiên cứu, chế tạo vũ khí đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng là nhiệm vụ đặc biệt cấp thiết. Với kiến thức tích lũy, ông đã trực tiếp nghiên cứu và chỉ đạo chế tạo súng, đạn Bazoka, súng không giật SKZ và bom bay (đạn bay).
Trong thời điểm cực kỳ khó khăn, ác liệt của cuộc kháng chiến, việc nghiên cứu, chế tạo thành công vũ khí có ý nghĩa rất quan trọng. Điều đó được chứng minh khi ta ngăn chặn và bẻ gãy cuộc tiến công của Pháp tại Chương Mỹ, Quốc Oai (Hà Nội) vào sáng ngày 3-3-1947. Tại đây, súng Bazoka do ông chế tạo đã bắn cháy 2 xe tăng, khiến địch sửng sốt, hoảng hốt, vội vã rút về Hà Nội. Với loại vũ khí này, cuộc chiến đấu của quân và dân ta từng bước giành được thắng lợi quan trọng.
Nổi bật là, Chiến dịch Việt Bắc Thu Đông năm 1947, ta đã bắn chìm tàu chiến Pháp trên sông Lô. Không chỉ tiêu diệt được xe tăng, xe thiết giáp, súng Bazoka còn tiêu diệt xe cơ giới, tàu chiến tuần tiễu trên sông, trận địa hỏa lực, lô cốt của địch và cả tốp bộ binh khi chúng tập trung đông. Với uy lực sát thương cao, súng Bazoka đã gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề trên khắp các chiến trường, nhanh chóng xoay chuyển tình thế, góp phần làm phá sản chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp.
Đối với súng không giật SKZ, như súng SKZ60mm, nặng 35kg, tính luôn đạn, có khả năng xuyên bê tông dày 60cm, có trọng lượng nhẹ, tháo, lắp, vận chuyển mang vác dễ dàng, nhưng lại có sức công phá ngang với đại bác và bom bay, đáp ứng được cách đánh công đồn của bộ đội ta, hạn chế thương vong khi đánh địch cố thủ trong các lô cốt bê tông cốt thép như.
Trong Chiến dịch Lê Hồng Phong I (từ 7-2 đến 15-3-1950), Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 đã sử dụng đánh phá chướng ngại vật kiên cố của địch, kịp thời yểm trợ cho bộ binh đột phá, xung phong giành thắng lợi tại các trận đánh Phố Lu và phố Ràng (Lào Cai)... Cùng với đó, súng SKZ được cải tiến đã phát huy tác dụng trong các trận chiến đấu công đồn như: Trận Chùa Dầu (Ninh Bình), Kông Plông (khu V)... gây cho địch những thiệt hại nặng nề. Sự xuất hiện của loại vũ khí này làm quân Pháp khiếp sợ, buộc phải xây dựng lại hệ thống công sự, đồn bót.
Ngoài súng Bakoza và SKZ, Giáo sư Trần Đại Nghĩa còn nghiên cứu, chế tạo thành công bom bay có tầm bắn từ 3 đến 4km, thường dùng đánh địch co cụm. Bên cạnh đó, ông cùng với cán bộ trong Nha Kỹ thuật còn nghiên cứu cải tiến, chế tạo thành công nhiều loại súng cối; riêng cối 120mm có tính năng bắn cầu vồng và bắn thẳng, đã phát huy tác dụng to lớn trong các trận phục kích địch trên sông.
Phương châm “tự cấp, tự túc” vũ khí đánh giặc
Cùng với nghiên cứu chế tạo vũ khí, ông còn chỉ đạo cán bộ quân giới mở các lớp bồi dưỡng kỹ thuật, đào tạo công nhân, hướng dẫn giúp các địa phương tự chế tạo lựu đạn bằng gang, sành, các loại mìn, thủy lôi... Vì vậy, số lượng vũ khí được tăng lên, đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, góp phần thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân và phương châm “tự cấp, tự túc” vũ khí đánh giặc. Chính những công trình nghiên cứu này, Giáo sư Trần Đại Nghĩa được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.
Nếu ở chiến trường miền Bắc, súng Bazoka và SKZ gây khiếp sợ cho xe tăng, thiết giáp và cả những công sự kiên cố của Pháp thì ở miền Nam, địa bàn bị chia cắt, công tác bảo đảm vũ khí gặp rất nhiều khó khăn. Dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Trần Đại Nghĩa, các đơn vị đã tích cực nghiên cứu, chế tạo, cải tiến vũ khí bảo đảm cho kháng chiến.
Ngoài những loại thiết kế theo mẫu có sẵn như lựu đạn, mìn, đạn cối, súng Bazoka, các đơn vị còn chế tạo nhiều vũ khí mới như đạn, súng pêta, SSAL, SSAT, cải tiến bom phóng để bắn thẳng, thủy lôi gây nổ bằng điện, địa lôi, súng cối 60mm và các loại vũ khí có uy lực nhỏ thành vũ khí có uy lực sát thương lớn như bệ phóng VB14 (loại vũ khí được địch ví như “B52”), bệ phóng phi lôi... phù hợp với chiến trường Tây Nam Bộ và được mệnh danh là loại “bom” mới không cần dùng máy bay, nhưng gây thiệt hại lớn cho địch trong các trận đánh với ta.
Với những thành tích nghiên cứu, chế tạo, cải tiến vũ khí, đạn thời kỳ kháng chiến chống chống Pháp trên địa bàn, ông đã được tặng thưởng Giải thưởng sáng tạo Khoa học kỹ thuật cấp Nhà nước vào năm 2000.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Giáo sư Trần Đại Nghĩa đã cùng các nhà khoa học nghiên cứu thành công nhiều biện pháp kỹ thuật chống bom từ trường, bom bi, bom laser, mìn lá, lựu đạn của địch; đồng thời cải tiến nâng cao hiệu suất chiến đấu của các loại vũ khí như: Cải tiến hỏa tiễn đất đối đất H6 thành đất đối không để đánh máy bay tầm thấp, góp phần hạn chế địch đánh phá các đầu mối giao thông trên tuyến đường Trường Sơn huyền thoại. Trong đó, việc nghiên cứu, chế tạo thành công xe phóng từ trường từ xa có thể phá bom ở cự ly 130m là một thành công về kỹ thuật.
Ngoài ra, ông cùng các nhà khoa học tiến hành cải tiến thành công nhiều vũ khí quan trọng như: Giàn hỏa tiễn Kachiusa do Liên Xô viện trợ, từ nặng, cồng kềnh thành gọn, nhẹ, phù hợp với chiến trường Việt Nam mà vẫn đảm bảo công năng; nghiên cứu, chế tạo nhiều loại vũ khí, khí tài đặc biệt phục vụ cho đánh tàu chiến của địch ở ngoài khơi như tia hồng ngoại, ra đa, thủy lôi APS, loại gọn nhẹ để bộ đội đặc công tác chiến, cũng như nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để rà phá, tháo gỡ và vô hiệu hóa thủy lôi, bom từ trường mà Mỹ thả xuống các cửa sông, cảng biển.
Đặc biệt, ông đã cùng các nhà khoa học nghiên cứu, chế tạo thành công bộ khí tài KX để nâng cao khả năng phát hiện máy bay B52 khi bị gây nhiễu và cải tiến nâng độ cao của tên lửa SAM-2, giúp bộ đội ta bắn rơi “siêu pháo đài bay” của Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Thắng lợi vang dội của Chiến dịch Phòng không Hà Nội 1972, góp phần làm nên Đại thắng Mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Có thể khẳng định, Thiếu tướng, Giáo sư, Viện sĩ, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa chính là người đặt nền móng kiến tạo và phát triển khoa học và công nghệ quân sự, đưa trí tuệ Việt Nam vươn tới đỉnh cao của khoa học kỹ thuật thế giới lúc bấy giờ.


