Cựu Thanh niên xung phong

Trần Can – Người cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” trên cứ điểm Him Lam

Đào Khánh Linh

Điện Biên17/08/2026xã An Phú (Xã An Phú)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đồng chí Trần Can sinh năm 1931, quê tại xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ngay từ thuở nhỏ, Trần Can đã nuôi ước nguyện được khoác áo lính, cầm súng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Khi trưởng thành, anh nhiều lần tình nguyện nhập ngũ nhưng do sức khỏe chưa bảo đảm nên đều bị từ chối. Phải đến lần thứ tư, mong muốn được trở thành người lính của Trần Can mới thành hiện thực.

Những ngày đầu trong quân ngũ, Trần Can nhanh chóng thể hiện phẩm chất của một người chiến sĩ gan dạ, linh hoạt và có tinh thần trách nhiệm cao. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù chiến đấu giữa lúc hiểm nguy, ác liệt, anh vẫn luôn chủ động đi đầu, tìm cách vượt qua khó khăn và hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Năm 1952, sau đợt chỉnh huấn chính trị, tổ chức và trang bị, các đại đoàn cơ động của Quân đội nhân dân Việt Nam được kiện toàn, biên chế thống nhất theo quy định của Bộ Tổng Tham mưu. Các đơn vị bộ binh được tổ chức chặt chẽ hơn, trong đó mỗi tiểu đoàn có một đại đội chủ công gồm bốn trung đội. Công tác huấn luyện quân sự cũng được chuẩn hóa, chú trọng kỹ năng đánh công sự kiên cố, tiêu diệt các cứ điểm có lực lượng lớn của đối phương và đánh vận động các binh đoàn cơ động.

Các cuộc diễn tập thực binh, bắn đạn thật cùng sự phối hợp của các phân đội hỏa lực và các binh chủng đã giúp bộ đội nâng cao trình độ tác chiến. Với Trung đoàn 209, Đại đoàn 312, những thay đổi trong tổ chức và huấn luyện đã tạo nên một bước phát triển mới về sức chiến đấu. Trần Can cùng đồng đội bước vào Chiến dịch Tây Bắc với khí thế và niềm tin mới.

Người lính xung kích trên chiến trường Tây Bắc

Tây Bắc khi đó giữ vị trí đặc biệt quan trọng trên chiến trường Bắc Bộ. Việc địch chiếm đóng khu vực này tạo điều kiện để chúng thường xuyên uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy, giải phóng Tây Bắc không chỉ nhằm tiêu diệt sinh lực đối phương mà còn giúp mở rộng, củng cố căn cứ địa và tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân địa phương.

Ngày 10-10-1952, toàn Đại đoàn 312 vượt sông Thao, chia thành hai hướng tiến công. Một hướng do Trung đoàn 141 đảm nhiệm, vượt Khe Lóng, nhanh chóng đánh chiếm vị trí Sài Lương. Ở hướng còn lại, Trung đoàn 209 của Trần Can vượt đèo Nậm Bằng cao gần 2.000m, trên đường tiến quân lần lượt đánh địch ở La Hầu Pèng, rồi bao vây và tiêu diệt quân địch tại Nậm Mười, bản Tủ, bản Hoa.

Tại trận bản Hoa, Trần Can đảm nhiệm nhiệm vụ xung kích. Ngay khi nhận lệnh tiến công, anh cùng tiểu đội nhanh chóng vượt qua cửa mở, dùng thủ pháo phá một ụ súng rồi tiếp tục tiến sâu vào bên trong. Khi toàn bộ đồng đội trong tiểu đội lần lượt bị thương vong, Trần Can không lui bước mà chủ động phối hợp với hai chiến sĩ thuộc tiểu đội khác lập thành một tổ chiến đấu mới.

Anh trực tiếp dẫn đầu tổ, lần lượt đánh phá thêm ba ụ súng của đối phương, sau đó tiến thẳng vào sở chỉ huy. Trận đánh kết thúc với việc cơ quan đầu não của địch bị tiêu diệt, 22 tên bị bắt sống và 17 khẩu súng các loại bị thu giữ.

Nhận nhiệm vụ đánh cứ điểm Him Lam

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, đơn vị Trần Can được giao nhiệm vụ tiến công cứ điểm Him Lam, một trong những vị trí phòng thủ kiên cố của quân Pháp.

Him Lam nằm cách Mường Thanh khoảng 2,5km, có nhiệm vụ bảo vệ khu trung tâm và khống chế tuyến đường từ Tuần Giáo vào Điện Biên Phủ. Tại đây, quân Pháp bố trí một tiểu đoàn lê dương tăng cường thuộc Lữ đoàn Lê dương số 13.

Cứ điểm Him Lam vốn có năm mỏm nhưng sau đó địch sử dụng máy ủi san thành ba mỏm chính. Ba cứ điểm này có khả năng hỗ trợ lẫn nhau và cũng có thể độc lập chiến đấu. Hệ thống hỏa lực được bố trí nhiều tầng, gồm các hỏa điểm chéo, hỏa điểm lướt sườn; giữa các vị trí là hàng rào, bãi mìn và hệ thống công sự phụ rộng từ 100 đến 200m. Các cứ điểm đều có hầm ngầm và lực lượng phản kích.

Đối với bộ đội ta, tiến công một cứ điểm nằm trong tập đoàn phòng ngự mạnh như Him Lam đặt ra yêu cầu rất cao về công tác trinh sát. Sau khi nhận nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ liên tục nghiên cứu thực địa. Ban ngày, các tổ trinh sát lên đài quan sát để tìm hiểu hệ thống phòng thủ; ban đêm, cán bộ tiếp cận mục tiêu từ nhiều hướng.

Để có được bức tranh đầy đủ về Him Lam, lực lượng trinh sát phải tiến hành nhiều lần, ở nhiều thời điểm và trên các hướng khác nhau rồi tổng hợp thông tin. Chỉ khi nắm chắc cả khu vực bên ngoài lẫn hệ thống phòng thủ bên trong cứ điểm, phương án tiến công mới có cơ sở chính xác.

Địch cũng nhận ra ý đồ của quân ta và tìm mọi cách ngăn chặn. Đêm 11-3, bộ đội vừa hoàn thành tuyến xuất phát xung phong thì sáng hôm sau quân Pháp huy động bộ binh có xe tăng và xe xúc đất tiến ra phá tuyến hào. Chúng cài mìn, dùng xe ủi san lấp, sau đó tiếp tục dùng pháo binh và máy bay oanh kích từ tuyến xuất phát đến cửa rừng.

Tối 12-3, lợi dụng sương mù, bộ đội ta lại tổ chức đào hào. Các chiến sĩ phải cẩn thận gỡ từng quả mìn, moi đất lẫn cành cây để khôi phục tuyến tiến công, trong khi pháo và súng cối địch liên tục bắn phá.

Ban ngày địch phá hào, ban đêm chúng sử dụng đèn pha, pháo sáng và các toán tuần tra để ngăn lực lượng trinh sát tiếp cận. Trong hai đêm liên tiếp, nhiều chiến sĩ quân báo bị thương vong nhưng tình hình bên trong Him Lam vẫn chưa được nắm rõ.

Trước yêu cầu cấp thiết đó, chỉ huy Đại đoàn giao nhiệm vụ cho lực lượng quân báo tổ chức một toán nhỏ, ngụy trang bằng đất, bí mật tiến ra cửa rừng vào thời điểm quân Pháp đi lấy nước. Nhiệm vụ là quan sát đường đi, tổ chức phục kích và bắt tù binh để khai thác thông tin.

Đúng ba ngày sau, trung đội trưởng quân báo đưa về sở chỉ huy một tù binh Pháp là Thiếu úy Giắc Cơ. Những thông tin thu được từ người này sau khi đối chiếu với kết quả trinh sát thực địa đã giúp bộ đội ta có thêm cơ sở xác định tình hình bên trong cứ điểm.

Lá cờ đầu tiên tung bay trên cứ điểm địch

17 giờ 10 phút ngày 13-3-1954, pháo binh Việt Nam bắt đầu dội lửa xuống Him Lam. Trong thời gian đầu, hỏa lực ta áp chế mạnh khiến việc tiến công diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên, khi quân Pháp hồi phục và pháo binh địch bắt đầu phản kích, bộ đội ta phải đối mặt với nhiều khó khăn.

Tuyến hào giao thông ở một số vị trí vừa nông vừa thiếu hào nhánh khiến việc cơ động trở nên khó khăn. Đội hình xung kích tập trung đông trong lòng hào, trong khi hỏa lực của tiểu đoàn chưa thể vượt lên phía trước.

Các phân đội trợ chiến buộc phải rời khỏi hào, tiến sát hàng rào dưới hỏa lực địch để triển khai trận địa, tạo điều kiện cho lực lượng bộc phá mở cửa. Cùng lúc, các tổ hỏa lực của Trung đoàn 141 tiến sát cứ điểm, sử dụng hỏa lực kiềm chế các lỗ châu mai, hỗ trợ bộ đội phá hàng rào.

Ở một hướng khác, các hỏa điểm của địch lần lượt bị sơn pháo và ĐKZ tiêu diệt. Sau khi cửa mở được khai thông, lực lượng xung kích nhanh chóng tràn vào bên trong.

Tiểu đội trưởng Trần Can trực tiếp chỉ huy bộ đội chiếm lô cốt đầu cầu. Sau đó, anh tiếp tục dẫn một tổ đánh lô cốt số 6 rồi tiến về lô cốt cố thủ.

Tại đây, súng máy địch bắn quét dữ dội. Trần Can tổ chức một tổ bí mật vòng ra phía sau lô cốt, sử dụng thủ pháo kết hợp với hỏa lực nghi binh ở phía trước nhằm thu hút sự chú ý của đối phương. Khi quân Pháp tập trung hỏa lực về phía trước, các chiến sĩ bất ngờ đánh từ phía sau.

Sau một số loạt thủ pháo, khẩu trung liên trong lô cốt cố thủ im tiếng.

Nắm bắt thời cơ, Trần Can lập tức bật khỏi giao thông hào, mang theo lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng và cắm lên nóc lô cốt cố thủ của địch.

Đó là lá cờ đầu tiên của quân ta tung bay trên một cứ điểm của quân Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ. Trong tiếng súng dồn dập, hình ảnh lá cờ như tiếp thêm khí thế để các chiến sĩ tiếp tục tiến lên.

Sau khi cắm cờ, Trần Can tiếp tục chỉ huy tiểu đội đánh sâu vào các ngách của hệ thống công sự, bắt sống một sĩ quan lê dương. Các tổ khác đồng thời tiến công những lô cốt xung quanh.

Khi bộ đội đang phát triển đội hình, một ổ đề kháng mới xuất hiện. Địch lợi dụng bao cát để tổ chức hỏa lực dọc theo giao thông hào. Một số tên địch đã ra hàng sau khi được gọi hàng, nhưng vẫn còn những binh lính ngoan cố tiếp tục chống cự.

Nhận thấy đây là hỏa điểm nguy hiểm, Trần Can đề nghị sử dụng thuốc nổ để tiêu diệt. Một chiến sĩ được giao nhiệm vụ mang bộc phá tiến lên nhưng bị trúng đạn. Sau đó, anh tiếp tục đứng dậy, chờ thời cơ rồi trườn về phía hầm ngầm.

Bộc phá phát nổ, hầm ngầm của địch bị phá hủy. Tiểu đội Trần Can bắt sống 25 tên và thu nhiều vũ khí. Cứ điểm Him Lam, một trong những vị trí được quân Pháp xây dựng và phòng thủ rất kiên cố, đã bị quân ta tiêu diệt.

Kiên cường giữ điểm cao 507

Không chỉ lập công tại Him Lam, trong trận đánh điểm cao 507 thuộc khu trung tâm Mường Thanh, Trần Can tiếp tục thể hiện tinh thần chiến đấu kiên cường.

Anh dẫn đầu tiểu đội xông lên áp đảo quân Pháp, chiếm được khu vực cột cờ. Địch lập tức sử dụng pháo binh dữ dội và tổ chức lực lượng phản kích nhằm giành lại vị trí.

Trận chiến diễn ra hết sức quyết liệt. Quân ta và quân địch giành giật từng vị trí, từng đoạn chiến hào. Trần Can cùng đồng đội kiên quyết bám trụ, đánh lui liên tiếp bốn đợt phản kích.

Đến đợt tiến công thứ năm, quân Pháp ném lựu đạn dồn dập trước khi xung phong. Trần Can nhặt những quả lựu đạn còn có thể sử dụng và ném trả, đồng thời chỉ huy chiến sĩ vượt lên khỏi hào đánh giáp lá cà với đối phương.

Cán bộ đại đội lần lượt thương vong, bản thân Trần Can cũng bị thương nhưng anh vẫn tiếp tục nhận trách nhiệm chỉ huy. Sang ngày hôm sau, anh tập hợp những thương binh nhẹ, động viên tinh thần, củng cố tổ chức và sắp xếp lại trận địa.

Quân Pháp tiếp tục mở các đợt phản kích nhằm đánh bật bộ đội ta khỏi vị trí cửa ngõ tiến vào Mường Thanh. Trần Can trực tiếp chỉ huy đơn vị đánh tan cuộc tiến công của địch, giữ vững trận địa, tạo điều kiện để các đơn vị tiếp tục phát triển vào trung tâm Mường Thanh.

Đến sáng 7-5-1954, trong ngày cuối cùng của Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Can tiếp tục chỉ huy bộ đội tiến công vào sở chỉ huy của tướng Đờ Cát. Anh đã anh dũng hy sinh trong trận đánh lịch sử ấy.

Ngày 7-5-1956, Trần Can được truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Từ một người nhiều lần bị từ chối nhập ngũ vì sức khỏe, Trần Can đã trở thành một chiến sĩ xung kích tiêu biểu trên chiến trường Điện Biên Phủ. Hình ảnh người tiểu đội trưởng cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” trên cứ điểm Him Lam đã trở thành một dấu ấn đặc biệt, gắn với những giờ phút đầu tiên của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn