Bài viết

Trận Cầu Bông và hành trình trở thành anh hùng

Hưng Yên28/12/2025Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1975, ở tuổi 26, Đoàn Sinh Hưởng mang quân hàm Thiếu úy, giữ chức Đại đội trưởng Đại đội xe tăng 9, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 273, Quân đoàn 3. Đơn vị ông trở thành mũi nhọn của chiến dịch Tây Nguyên, một bước ngoặt quan trọng, làm thay đổi cục diện cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Ngày 10-3-1975, Đại đội 9 nhận lệnh tiến đánh trung tâm Buôn Ma Thuột – nơi địch bố trí phòng thủ dày đặc. Xe tăng 980 do Đoàn Sinh Hưởng trực tiếp chỉ huy dẫn đầu đội hình, vượt qua tuyến phòng ngự, bất chấp mưa bom bão đạn. Khi xe tăng 980 bắn cháy chiếc M113, bắt sống Phó tỉnh trưởng Đắk Lắk cùng hàng trăm lính, lá cờ chiến thắng được cắm trên nóc Sư đoàn bộ 23 ngụy lúc 11 giờ 30 phút. Đó là thời khắc làm rung chuyển hệ thống phòng thủ của địch, tạo thế áp đảo trên toàn chiến trường Tây Nguyên.

Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt các tướng lĩnh, lực lượng tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Trong ảnh: Trung tướng Đoàn Sinh Hưởng bắt tay Tổng Bí thư Tô Lâm. Ảnh: Tư liệu.

Ngay sau đó, ông tiếp tục dẫn quân truy kích địch tháo chạy trên đường số 7, con đường hiểm trở với đồi núi, khúc cua gấp và những cây cầu hẹp. Đoàn Sinh Hưởng ra lệnh khai hỏa kịp thời, bắn cháy và bắt sống thêm nhiều xe tăng, xe thiết giáp của đối phương. Đặc biệt, ông mạnh dạn đề xuất dùng pháo tăng bắn vào hai tàu chiến địch ngoài biển Phú Yên. Một quyết định táo bạo, ít ai dám nghĩ tới, nhưng mang lại hiệu quả, khiến cấp trên cũng phải bất ngờ và khen ngợi.

Nhưng dấu ấn sâu đậm nhất, được đồng đội nhắc mãi, lại là trận Cầu Bông sáng 29-4-1975. Đây là cửa ngõ Tây Bắc Sài Gòn, điểm then chốt trong hệ thống phòng thủ của địch. Khi ấy, Đại đội 9 chỉ còn 4 xe tăng, trong khi phía trước là 24 xe tăng địch và 2 xe vận tải. Tình thế ngặt nghèo, mọi ánh mắt đều hướng về người chỉ huy nhỏ vóc dáng nhưng kiên nghị.

Ông bình tĩnh phân tích địa hình và đội hình địch, rồi hạ lệnh ém quân hai bên đường, kiên nhẫn chờ đợi địch lọt vào tầm bắn. Phát đạn đầu tiên từ xe tăng do ông chỉ huy đã bắn cháy chiếc xe đi đầu, phát tiếp theo phá hủy xe cuối cùng, làm đội hình địch rối loạn, hoảng sợ. Trong hơn một giờ chiến đấu, chỉ với 4 xe tăng, Đại đội 9 bắn cháy 12 xe địch, đẩy phần còn lại tháo chạy ra cánh đồng. Nhờ đó, cánh cửa tiến vào Sài Gòn được mở thông.

Ngay sau đó, đại đội ông tiếp tục đánh chiếm các mục tiêu trọng yếu: Trại Quang Trung, ngã tư Bảy Hiền, sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy. Trưa 30-4-1975, khi xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập, Đoàn Sinh Hưởng và đồng đội cũng có mặt, chứng kiến thời khắc non sông liền một dải sau hơn hai thập kỷ chia cắt.

Cuối năm 1975, ông được phong danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đêm nghe tin, thay vì vui mừng, ông lại nhớ đến những đồng đội đã ngã xuống, những người không kịp nhìn thấy ngày thắng lợi. “Giá như các bạn còn sống để cùng tôi chứng kiến…”, câu nói ấy ông vẫn giữ nguyên xúc động sau bao năm.

Sau ngày đất nước thống nhất, Đoàn Sinh Hưởng tiếp tục cống hiến. Ông học tập, rèn luyện, rồi trở thành Tư lệnh Binh chủng Tăng thiết giáp, sau đó là Tư lệnh Quân khu 4, mang quân hàm Trung tướng. Nhưng điều khiến anh em và cấp dưới nhớ nhất không chỉ là quân hàm hay chức vụ, mà là sự gần gũi, bình dị. Trong mắt đồng đội, ông vẫn là người chỉ huy biết lo cho anh em.

Có lần, giữa trận, ông rời xe chỉ huy chỉ để nhặt hai cái chảo nấu cơm cho lính. Theo quy định, chỉ huy không được rời xe chỉ huy trong chiến đấu, việc ấy suýt khiến ông bị kỷ luật. Nhưng khi kể lại, ông chỉ cười: “Huân chương không nhận, lại nhận hai cái chảo”. Chính sự quan tâm ấy càng khiến đồng đội thêm nể phục.

Ở tuổi ngoài 70, ông vẫn trở về thăm quê, ngồi bên sóng Trà Cổ, nhớ lại tháng năm tuổi trẻ và nhắn gửi thế hệ sau: “Hòa bình không tự nhiên mà có, đó là máu xương của bao người. Thế hệ trẻ phải biết trân trọng và sống sao cho xứng đáng”.

Từ cậu bé đất mỏ cao chưa đầy 1,5m, thành “con sóc Tây Nguyên” nhanh nhẹn giữa rừng đạn bom, rồi thành vị tướng lĩnh chỉ huy binh chủng xe tăng. Cuộc đời Đoàn Sinh Hưởng là minh chứng cho tinh thần người lính Vùng mỏ: Nhỏ vóc dáng, nhưng lớn ý chí, nhân hậu và quả cảm. Chính họ đã góp phần làm nên “dáng đứng Việt Nam” kiêu hãnh trong lịch sử.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Trận Cầu Bông và hành trình trở thành anh hùng | Câu chuyện thời hoa lửa