Cựu Thanh niên xung phong

Trận chiến trên sông Nhật Lệ

Năm 1969, khi mới 18 tuổi, bà Nguyệt tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. Sau thời gian huấn luyện ngắn, bà được phân công về đơn vị đảm bảo giao thông tại bến phà sông Nhật Lệ. Nhiệm vụ của bà và đồng đội là vận chuyển hàng hóa, dẫn đường cho xe qua phà, đồng thời sửa chữa đường sá, bến bãi sau mỗi trận đánh.

Quảng Trị05/05/2026Trương Thị Thùy Dung (Đoàn Trung tâm GDTX tỉnh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1969, khi mới 18 tuổi, bà Nguyệt tình nguyện gia nhập lực lượng thanh niên xung phong. Sau thời gian huấn luyện ngắn, bà được phân công về đơn vị đảm bảo giao thông tại bến phà sông Nhật Lệ. Nhiệm vụ của bà và đồng đội là vận chuyển hàng hóa, dẫn đường cho xe qua phà, đồng thời sửa chữa đường sá, bến bãi sau mỗi trận đánh.

Theo lời bà kể, công việc nguy hiểm nhất là những chuyến vận chuyển ban đêm. Ban ngày, máy bay trinh sát hoạt động liên tục nên mọi di chuyển phải hạn chế. Khi màn đêm buông xuống, bà cùng đồng đội bắt đầu công việc: soi đèn dẫn xe xuống phà, buộc dây, giữ thăng bằng khi nước chảy mạnh. Có những đêm mưa lớn, gió thổi mạnh, dòng nước dâng cao khiến việc điều khiển phà trở nên vô cùng khó khăn.

Một kỷ niệm mà bà không thể quên là vào năm 1972, khi đang cùng tổ làm nhiệm vụ thì còi báo động vang lên. Máy bay địch bất ngờ xuất hiện và ném bom xuống khu vực bến phà. Mặt sông dậy sóng, đất đá văng tung tóe. Bà và đồng đội phải nhanh chóng rời vị trí, tìm nơi trú ẩn. Khi đợt ném bom kết thúc, họ quay lại thì thấy nhiều đoạn đường bị phá hỏng, một số phương tiện bị hư hại. Không kịp nghỉ ngơi, cả đơn vị lập tức bắt tay vào sửa chữa để kịp cho chuyến vận chuyển tiếp theo.

Ngoài nhiệm vụ vận tải, bà Nguyệt còn tham gia cứu thương. Có những đêm, thương binh được đưa về từ phía Nam, bà cùng đồng đội phải nhanh chóng hỗ trợ băng bó và chuyển họ qua sông. Dụng cụ y tế thiếu thốn, ánh sáng yếu, nhưng ai cũng cố gắng hết sức để giữ lại sự sống cho đồng đội.

Cuộc sống của thanh niên xung phong bên sông Nhật Lệ vô cùng gian khổ. Lương thực chủ yếu là cơm độn khoai, sắn; nước uống phải chia từng phần nhỏ. Những ngày mưa bão, lán trại tạm bợ, ẩm ướt kéo dài. Tuy vậy, tinh thần của họ luôn lạc quan. Họ động viên nhau bằng những câu chuyện quê nhà, bằng niềm tin rằng chiến tranh rồi sẽ kết thúc.

Bà Nguyệt nhớ nhất là những người bạn cùng tuổi đã ngã xuống ngay bên bờ sông. Họ ra đi khi còn rất trẻ, để lại nỗi tiếc thương sâu sắc. Nhưng chính sự hy sinh ấy đã tiếp thêm sức mạnh để những người còn lại tiếp tục bám trụ.

Sau năm 1975, bà trở về cuộc sống đời thường tại Đồng Hới. Dòng sông Nhật Lệ hôm nay yên bình, nhưng với bà, nơi ấy luôn gợi nhớ về một thời tuổi trẻ đầy gian khổ mà cũng rất đỗi tự hào – nơi bà đã góp một phần nhỏ bé vào cuộc chiến đấu bảo vệ quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn