TRẬN CHIẾN TRÊN THÔN DƯ MÃ TỔNG
Đêm 16 rạng sáng 17/02/1979, chúng tôi trực chốt gồm ba người: Tráng Lùng Vảng, Lương Văn Át và tôi. Đêm ấy ca gác cuối cùng do tôi đảm nhiệm. Vào rạng sáng, có tiếng sóc bay kêu dưới hẻm ba tiếng, sau đó lại kêu ba tiếng gần lán chúng tôi — nghe tiếng sóc tôi thấy bồn chồn. Đúng lúc đó một quả đạn pháo rơi nổ ngay cạnh lán.
Tôi hét lớn: “Dậy đi, đánh nhau rồi!” rồi cầm khẩu trung liên chạy xuống tuyến dưới. Khi xuống tuyến gặp đồng chí Nhân từ khu nhà bếp chạy sang. Nhân hỏi: “Nó lên chưa?” — tôi quát: “Lên đây mau.”
Đồng chí Nhân vừa chạy lên thì một quả pháo nổ ngay trên cành cây trên đầu chúng tôi; một cành cây đổ ụp xuống đầu. Tôi và Nhân lui vào hầm. Cái hầm chữ A rung như sàng thóc sau những loạt pháo. Sau mỗi loạt pháo có lúc im, chúng tôi chui ra nghe ngóng; khi pháo nổ lại, chúng tôi lại vào hầm. Khi tiếng pháo tạm lắng, chúng tôi mang AK ra nghe ngóng.
Từ phía dưới đồi có tiếng Kinh hét lớn báo là dân quân dừng bắn, là người mình lên giúp. Một lúc sau xuất hiện trước mặt tôi không phải dân quân mà là quân nhân Trung Quốc cầm khẩu CKC, lắp lê sáng loáng, mặc quân phục, đội mũ sao. Mặt đối mặt, cả hai bên khựng lại.
Nó quát lớn: Giơ tay lên.
Tôi giơ súng xả một loạt AK. Bên kia cũng vang lên loạt súng — tôi thấy tay phải đau nhói và nói với Nhân: “Tao chảy máu rồi.” Nhân bắn yểm trợ rồi rút lên đỉnh núi; tôi cầm trung liên chạy lên đỉnh núi.
Vào hầm, tôi xé băng bó vết thương tay. Đồng chí Át cầm AK bước ra, đặt súng trước mặt tôi và lấy khẩu trung liên của tôi để tiếp tục bắn yểm trợ. Tôi vừa băng bó vừa nhìn Át đứng bắn. Bỗng có tiếng xẹt — đồng chí Át khuỵu xuống trước mặt tôi, máu ở bụng trào ra. Át thiều thào: “Phái ơi, tao chết mất, băng tao với.” Tôi trả lời: “Yên đã, để tao băng tao đã.” Khi tôi băng bó xong định băng cho Át thì không biết đồng chí bò đi đâu.
Tôi gọi to Tráng Lùng Vảng: “Bắn cối! Bắn cối!”Nhưng không thấy Vảng đâu. Tôi vác cối 60 đặt ngoài cửa hố, quay vào xách tải đạn nhưng không nổi; tôi ôm lựu đạn trên giường ra. Quân địch đã lên đến nơi — tôi nghe tiếng giày địch dẫm trên ván gỗ. Tôi ném lựu đạn; ném được hai quả thì quả thứ ba tuột tay, tôi chụp 4 lần mới vứt được quả lựu đạn ra khỏi hố — quả lựu đạn nổ ngay sau khi bay ra khỏi miệng hố. Vừa bắn AK vừa ném lựu đạn thì Nhân chạy lên.
Nhân hét lớn: “Gốc lau!”
Tôi nén lựu đạn theo chỉ dẫn của Nhân. Nhân bảo “Đi thôi” — tôi bảo “Không đi.” Nghĩ một lúc tôi lại đi, cho quả lựu đạn cuối cùng vào túi quần. Nhân cầm hai khẩu AK, tôi cầm trung liên. Khi đi qua một bụi rậm địch đuổi theo, Nhân quay lại tì súng vào gốc cây bắn. Bỗng gốc cây mà Nhân núp bị xé toạc — một viên đạn xuyên từ hốc mũi qua họng cằm Nhân. Nhân gục xuống, ú ớ: “Bố mẹ ơi con chết rồi.” Tôi quát: “Im đi!” và bò lên lấy mũ úp đường đạn. Tôi sờ túi quần, túi áo không thấy băng, sau mới lục thấy băng trong đáy bao xe. Tôi tháo băng băng cho Nhân, cầm theo một quả lựu đạn, một khẩu AK và hai băng đạn, dìu Nhân đi.
Sau bốn ngày băng rừng, đói ăn củ chuối, khát uống nước suối, chúng tôi vào một xóm người đồng bào Mông. Người trẻ đã di tản, chỉ còn vài cụ già. Họ khóc lớn khi thấy chúng tôi; một lúc sau họ tìm một cô gái Mông (tôi đoán là y tá thôn) mang băng gạc và cơm cho chúng tôi, dân làng mang cho chúng tôi quần áo người Mông. Khi thay băng, trong vết thương có dòi. Đêm đó dân dẫn đường đưa chúng tôi về trạm xá Si Ma Cai, sau đó chuyển về bệnh viện Bắc Hà; vì vết thương nặng, chúng tôi liên tiếp được chuyển đến bệnh viện 194 Bảo Yên, bệnh viện Phú Thọ, rồi bệnh viện 109. Ở khu B khoảng một tuần, ông chủ nhà hỏi: “Chú có nghe đài không?” — tôi bảo có. Qua đài phát thanh nghe tin đồng chí Tráng Lùng Vảng báo cáo rằng chúng tôi đã chết trận, chỉ mình đồng chí ấy sống sót.
Tôi viết thư về gia đình để báo với đơn vị tác chiến tỉnh đội Hoàng Liên Sơn rằng chúng tôi vẫn sống. Khi bình phục trở lại đơn vị, được biết đêm đó chúng tôi đã tiêu diệt hơn chục tên địch. Tôi cũng nghe tin đồng chí Lương Văn Át đã được nhân dân cứu sống. Rất may, sau trận đánh ác liệt đó chúng tôi đều may mắn sống sót.



