TRẦN ĐẠI NGHĨA – NHÀ KHOA HỌC MANG TRÍ TUỆ PHỤNG SỰ TỔ QUỐC
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có những con người đã lựa chọn con đường đầy gian khó để cống hiến trọn đời cho Tổ quốc. Giáo sư, Viện sĩ, Thiếu tướng, Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa là một trong những người như thế. Ông không trực tiếp cầm súng ngoài chiến trường, nhưng những công trình nghiên cứu của ông đã góp phần tạo nên sức mạnh cho quân đội ta trong những năm tháng kháng chiến đầy cam go.
Tên thật là Phạm Quang Lễ, ông sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913 tại vùng quê Chánh Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long trong một gia đình nhà giáo nghèo. Cha mất khi ông mới lên sáu tuổi, mẹ và chị gái đã tần tảo nuôi ông ăn học. Ngay từ nhỏ, Phạm Quang Lễ đã nổi tiếng thông minh và ham học. Năm 1933, ông đỗ đầu cả hai bằng Tú tài Việt và Tú tài Tây – thành tích hiếm có lúc bấy giờ.
Nhờ nghị lực và tài năng xuất sắc, năm 1935 ông nhận được học bổng sang Pháp du học. Tại đây, chàng trai Nam Bộ miệt mài học tập và lần lượt tốt nghiệp nhiều trường đại học danh tiếng hàng đầu châu Âu về toán học, kỹ thuật, cầu đường, hàng không và cơ khí. Sau đó, ông làm việc trong các cơ sở nghiên cứu khoa học tiên tiến của Pháp và Đức, có điều kiện hưởng cuộc sống đầy đủ mà nhiều người mơ ước.
Thế nhưng, trong trái tim người trí thức trẻ ấy luôn đau đáu nỗi niềm về quê hương đang chìm trong cảnh nô lệ. Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, Phạm Quang Lễ đã quyết định từ bỏ tương lai rộng mở nơi trời Âu để trở về Tổ quốc. Theo chân Bác Hồ về nước, ông mang theo toàn bộ tri thức, nhiệt huyết và khát vọng được góp sức cho nền độc lập của dân tộc.
Ngày 5 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cho ông cái tên mới – Trần Đại Nghĩa, với mong muốn ông sẽ gánh vác những việc lớn lao cho đất nước. Từ đó, cái tên Trần Đại Nghĩa gắn liền với những trang sử vẻ vang của ngành quân giới Việt Nam.
Những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, quân đội ta vô cùng thiếu thốn vũ khí. Đứng trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự lao vào nghiên cứu trong điều kiện hết sức khó khăn. Giữa núi rừng Việt Bắc, ông đã trực tiếp chỉ đạo chế tạo thành công súng chống tăng Bazooka – loại vũ khí hiện đại lúc bấy giờ.
Tháng 3 năm 1947, những khẩu Bazooka "made in Việt Nam" lần đầu xuất trận tại chùa Trầm, Quốc Oai và đã bắn cháy xe tăng của quân Pháp. Chiến công ấy khiến bộ đội và nhân dân vô cùng phấn khởi, chứng minh rằng người Việt Nam hoàn toàn có thể tự chế tạo những loại vũ khí hiện đại phục vụ kháng chiến.
Không dừng lại ở đó, Trần Đại Nghĩa tiếp tục nghiên cứu thành công súng không giật SKZ, bom bay và nhiều loại vũ khí khác. Những sáng chế của ông đã giúp quân đội ta phá hủy nhiều công sự kiên cố của đối phương, góp phần làm thay đổi tương quan lực lượng trên chiến trường.
Là người đứng đầu ngành quân giới, ông không chỉ là nhà khoa học xuất sắc mà còn là người thầy tận tụy. Ông trực tiếp đào tạo nhiều thế hệ cán bộ kỹ thuật, kỹ sư và công nhân quân giới, đặt nền móng cho nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Năm 1952, tại Đại hội Anh hùng và Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ nhất, Trần Đại Nghĩa được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Ông trở thành một trong ba Anh hùng Lao động đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau hòa bình lập lại, ông tiếp tục đảm nhận nhiều trọng trách quan trọng của đất nước như Hiệu trưởng đầu tiên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam và Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Dù ở cương vị nào, ông vẫn luôn dành trọn tâm huyết cho sự nghiệp phát triển khoa học và đào tạo nhân tài cho đất nước.
Khi được hỏi vì sao từ bỏ cuộc sống đầy đủ ở châu Âu để trở về Việt Nam kháng chiến, ông đã trả lời bằng những lời giản dị nhưng đầy xúc động: "Bạn bè của tôi ở lại bên Pháp, họ đều sung sướng, đầy đủ hơn tôi rất nhiều. Nhưng về khía cạnh phụng sự Tổ quốc, họ chẳng có gì cả."
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông viết trong sổ tay: "Nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành...". Đó là niềm hạnh phúc của một người đã dành cả cuộc đời để phụng sự dân tộc bằng trí tuệ và trái tim.



