TRẦN ĐẠI NGHĨA – TRÍ TUỆ VIỆT GIỮA THỜI HOA LỬA
Từ cậu bé nghèo lớn lên bên dòng sông quê Vĩnh Long đến nhà khoa học tầm vóc thế giới, Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa đã chọn con đường trở về, hiến dâng toàn bộ trí tuệ và cuộc đời mình cho Tổ quốc. Giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt, ông lặng lẽ trong phòng thí nghiệm giữa núi rừng Việt Bắc, đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Cuộc đời ông là minh chứng sinh động cho lòng yêu nước bền bỉ, cho tinh thần tự lực tự cường và cho khát vọng đưa trí tuệ Việt Nam phụng sự d
Năm học lớp 12, tôi có dịp cùng thầy cô và bạn bè đến thăm Khu lưu niệm Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa tại ấp Phú Mỹ 1, xã Tường Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Giữa không gian xanh mát, yên bình của miền quê Nam Bộ, khu lưu niệm hiện lên giản dị mà trang nghiêm. Bước vào ngôi nhà nhỏ trưng bày những kỷ vật, hình ảnh và bản thảo nghiên cứu của Bác, tôi như được bước vào một không gian khác – nơi lưu giữ câu chuyện về một trí thức lớn của dân tộc, người đã dành trọn trí tuệ và cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng đất nước.
Hôm ấy, đứng trước bức chân dung Bác trong bộ quân phục, ánh mắt hiền từ nhưng cương nghị, tôi hiểu sâu sắc hơn thế nào là lòng yêu nước thầm lặng, là sự hy sinh không ồn ào mà bền bỉ của những con người sống trọn đời vì Tổ quốc.
Từ thuở nhỏ, tôi đã từng đọc một bài báo cũ của ông ngoại viết về Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa. Khi ấy, trong suy nghĩ non nớt, tôi chỉ biết Bác là người chế tạo vũ khí cho quân đội. Nhưng chỉ đến khi được tận mắt nhìn những hiện vật, được nghe câu chuyện về cuộc đời Bác, tôi mới thực sự cảm nhận được tầm vóc vĩ đại của một trí thức Việt Nam: vươn lên từ nghèo khó, tỏa sáng nơi đất khách, rồi lặng lẽ trở về hiến dâng tất cả cho quê hương.
Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, tên thật là Phạm Quang Lễ, sinh ngày 13 tháng 9 năm 1913, tại xã Chánh Hiệp (nay là xã Hòa Hiệp), huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Bác sinh ra trong một gia đình nhà giáo nghèo. Cha là ông Phạm Văn Mùi, một người thầy tận tụy, đã sớm gieo vào lòng con trai tinh thần hiếu học và trách nhiệm với đất nước. Mẹ là bà Lý Thị Diệu, người phụ nữ tảo tần, hết lòng vì con.
Tuổi thơ của Bác tưởng chừng êm đềm thì biến cố ập đến khi Bác mới bảy tuổi: cha qua đời, để lại lời trăn trối đầy kỳ vọng rằng con phải học hành đến nơi đến chốn, phải đem hiểu biết của mình giúp ích cho đời. Lời dặn ấy trở thành ngọn đuốc soi đường cho Bác suốt cuộc đời.
Sau khi cha mất, gia đình lâm vào cảnh khó khăn. Mẹ và chị gái phải về quê làm ruộng kiếm sống, còn Bác một mình ở lại Vĩnh Long tiếp tục học tập. Tuổi còn rất nhỏ nhưng Bác đã sớm nếm trải sự cô đơn, thiếu thốn. Có lần vì quá nhớ mẹ, Bác đã lội bộ hơn hai mươi cây số chỉ để được gặp mẹ một lần rồi lại quay về trường học. Chính những năm tháng cơ cực ấy đã rèn cho Bác nghị lực phi thường và khát vọng vươn lên bằng con đường tri thức.
Ngay từ nhỏ, Bác đã nổi tiếng thông minh, ham học. Bác học tiểu học tại Trường Internat Primaire (nay là Trường THPT Lưu Văn Liệt, tỉnh Vĩnh Long), rồi thi đỗ hạng ưu vào Trường Trung học Mỹ Tho và Trường Petrus Ký – những ngôi trường danh giá bậc nhất Nam Kỳ lúc bấy giờ. Năm 1933, Bác thi đỗ đầu cả hai bằng Tú tài Việt và Tú tài Tây, một thành tích hiếm có trong hoàn cảnh đất nước còn bị đô hộ.
Tuy học giỏi, nhưng cái nghèo vẫn là rào cản lớn. Không đủ điều kiện ra Hà Nội học đại học, Bác đi làm để phụ giúp gia đình. Trong thời gian làm việc tại Mỹ Tho, Bác vẫn kiên trì tự học, đặc biệt là Luật và các kiến thức khoa học kỹ thuật. Chính tinh thần tự học bền bỉ ấy đã đặt nền móng cho con đường khoa học sau này của Bác.
Bước ngoặt đến khi Bác giành được học bổng sang Pháp du học năm 1935. Tại châu Âu, dù phải đối mặt với nhiều rào cản đối với người dân thuộc địa, Bác vẫn kiên trì theo đuổi ngành cơ khí – kỹ thuật. Bác học tại nhiều trường đại học danh tiếng như Đại học Bách khoa Paris, Sorbonne, Đại học Cầu đường, Đại học Mỏ… và sớm khẳng định tài năng của mình. Bác làm việc tại các viện nghiên cứu, hãng chế tạo máy bay và vũ khí của Pháp và Đức, trở thành kỹ sư trưởng với mức lương cao và sự nghiệp rộng mở.
Nhưng giữa ánh hào quang nơi trời Tây, trái tim Bác vẫn luôn hướng về Tổ quốc. Bác âm thầm sưu tầm, ghi chép hơn ba vạn trang tài liệu về vũ khí, coi đó là hành trang cho ngày trở về phục vụ đất nước.
Năm 1946, khi gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Pháp, Bác Phạm Quang Lễ không ngần ngại bày tỏ nguyện vọng được trở về cống hiến. Tháng 9 năm ấy, Bác từ bỏ tất cả danh vọng, giàu sang để theo Bác Hồ về nước. Ngày 5 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho ông nhiệm vụ xây dựng ngành quân giới và đặt cho ông tên mới là Trần Đại Nghĩa – người họ Trần gánh vác đại nghĩa của dân tộc.
Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, giữa núi rừng Việt Bắc, trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, Bác cùng đồng đội xây dựng những xưởng quân giới đầu tiên. Những khẩu bazooka, súng SKZ, lựu đạn, mìn… mang dòng chữ “Made in Vietnam” lần lượt ra đời, góp phần làm nên chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông 1947. Với những đóng góp xuất sắc, Bác được phong quân hàm Thiếu tướng và trở thành một trong những người đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Trong kháng chiến chống Mỹ, Bác tiếp tục nghiên cứu, cải tiến nhiều loại vũ khí phù hợp với điều kiện chiến tranh nhân dân, đồng thời đào tạo đội ngũ kỹ sư, cán bộ kỹ thuật cho đất nước. Dưới bàn tay và khối óc của Bác, tri thức khoa học trở thành sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.
Sau ngày hòa bình, Bác tiếp tục cống hiến trên mặt trận khoa học và giáo dục, giữ nhiều trọng trách lớn của Nhà nước, được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô. Dù ở cương vị nào, Bác vẫn sống giản dị, khiêm nhường, tận tụy với công việc.
Giáo sư – Viện sĩ Trần Đại Nghĩa qua đời năm 1997, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn sống mãi. Từ cậu bé nghèo Nam Bộ đến nhà khoa học lớn của dân tộc, từ phòng thí nghiệm châu Âu đến những xưởng quân giới giữa rừng sâu, cuộc đời Bác là minh chứng sinh động cho chân lý: lòng yêu nước không chỉ ở chiến trường, mà còn tỏa sáng trong từng trang sách, từng công trình khoa học.
Rời khu lưu niệm trong ánh nắng chiều, tôi hiểu rằng hình ảnh Bác Trần Đại Nghĩa – người trí thức hiền hậu, vĩ đại – sẽ mãi là ngọn đèn soi đường cho thế hệ trẻ hôm nay trên hành trình học tập, rèn luyện và cống hiến cho Tổ quốc.



