Trần Đại Nghĩa: Từ Kỹ Sư Triệu Franc Ở Paris Đến "Ông Vua Vũ Khí" Nơi Chiến Khu Việt Bắc
Câu chuyện cảm động và kỳ diệu về Giáo sư Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa) – người đã từ bỏ sự nghiệp lẫy lừng và cuộc sống nhung lụa tại Pháp năm 1946 để theo Bác Hồ về nước, dùng trí tuệ kiệt xuất chế tạo nên những hỏa lực huyền thoại từ phế liệu, góp phần đảo ngược cục diện chiến trường trong cuộc kháng chiến chống Pháp.
Vào mùa thu năm 1946, tại Thủ đô Paris hoa lệ, một quyết định lặng lẽ nhưng đã làm thay đổi vĩnh viễn đời người và lịch sử quân sự Việt Nam. Phạm Quang Lễ – một kỹ sư trẻ người Việt gốc Vĩnh Long, khi đó đang sở hữu hàng loạt tấm bằng đại học danh giá bậc nhất nước Pháp, làm việc tại Viện Nghiên cứu Không quân Pháp với mức lương hàng trăm nghìn franc mỗi tháng cùng một tương lai vô cùng tươi sáng. Thế nhưng, cuộc gặp gỡ lịch sử với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước âm ỉ bấy lâu trong lòng vị kỹ sư trẻ. Không một phút đắn đo về tài sản hay vị thế cá nhân, ông đã quyết định gạt bỏ cuộc sống nhung lụa nơi xứ người, bước lên chuyến hạm Dumont d'Urville theo Bác Hồ trở về quê hương đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc kháng chiến trường kỳ.
Trở về một đất nước vừa giành độc lập còn non trẻ, đối mặt với vô vàn khó khăn và nền kinh tế kiệt quệ, Phạm Quang Lễ nhận được nhiệm vụ trọng đại từ Chủ tịch Hồ Chí Minh: xây dựng Cục Quân giới Việt Nam. Để bảo mật thân thế và bảo vệ an toàn cho gia đình ông ở miền Nam, Bác Hồ đã trao cho ông cái tên lịch sử – Trần Đại Nghĩa. Từ một trí thức quen sống trong các phòng thí nghiệm hiện đại của châu Âu, ông cởi bỏ bộ âu phục chỉn chu, khoác lên mình bộ quần áo nâu sẫm, cùng đồng đội vượt hàng trăm cây số đường rừng tiến lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, trong những lán lá đơn sơ giữa đại ngàn, dưới ánh đèn dầu tù mù, vị Cục trưởng Cục Quân giới bắt tay vào một sứ mệnh tưởng chừng như không thể: chế tạo vũ khí hiện đại cho một quân đội còn sơ khai, hoàn toàn thiếu thốn từ máy móc, thép đặc chủng cho đến từng thỏi thuốc nổ.
Thách thức lớn nhất của lực lượng Việt Minh trong giai đoạn đầu kháng chiến là làm sao đánh bại được xe tăng và xe thiết giáp bọc thép kiên cố của quân đội Pháp. Trước hỏa lực áp đảo của kẻ thù, Trần Đại Nghĩa đã nghiên cứu đêm ngày các tài liệu về súng Bazooka của Mỹ mà ông cất công thu thập từ thời còn ở Pháp. Trong điều kiện thiếu thốn đến mức phải mò nhặt từng vỏ đạn đại bác cũ, nấu chảy đường làm thuốc phóng, dùng ống sắt tăm xe làm nòng súng, ông cùng các cộng sự đã tạo nên một kỳ tích quân sự. Vào đầu năm 1947, những quả đạn Bazooka đầu tiên mang thương hiệu Việt Nam ra đời. Ngay trong trận chiến Chùa Trầm tại Hà Đông vào tháng 3 năm 1947, súng Bazooka do ông chế tạo đã bắn cháy hai xe tăng Pháp, bẻ gãy gọng kìm tiến công của địch và gieo rắc sự bàng hoàng cho quân đội viễn chinh.
Không dừng lại ở đó, tài năng sáng tạo của Trần Đại Nghĩa tiếp tục bùng nổ với việc nghiên cứu thành công súng không giật SKZ – loại đại bác hạng nhẹ có thể mang vác trên vai nhưng sở hữu sức công phá vô cùng khủng khiếp. Tại chiến trường Nam Bộ và chiến dịch Biên giới năm 1950, súng SKZ do quân giới Việt Nam chế tạo đã san phẳng những đồn bốt bê tông kiên cố của Pháp mà trước đó không loại pháo nhẹ nào làm được. Tướng quân Pháp Jean de Lattre de Tassigny từng phải thốt lên sự kinh ngạc trước thứ vũ khí mà ông không thể ngờ một quân đội du kích lại có thể tự nghiên cứu và sản xuất thành công trong rừng sâu. Đến chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, những cải tiến vũ khí và sự bền bỉ của ngành quân giới dưới sự dẫn dắt của Trần Đại Nghĩa đã đóng góp một phần công lao vô cùng to lớn vào chiến thắng "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu".
Trần Đại Nghĩa không chỉ là một nhà khoa học kiệt xuất, một "ông vua vũ khí", mà ông còn là biểu tượng rực rỡ cho phẩm chất cao đẹp của trí thức Việt Nam thế hệ Hồ Chí Minh. Sau khi hòa bình lập lại, ông tiếp tục cống hiến trọn đời cho sự nghiệp khoa học và giáo dục nước nhà với vai trò Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam đầu tiên, luôn giữ vững lối sống giản dị, khiêm nhường cho đến tận cuối đời. Câu chuyện về quyết định lịch sử năm 1946 của ông là lời khẳng định đanh thép rằng: sức mạnh lớn nhất của trí tuệ và khoa học không nằm ở những phòng thí nghiệm tráng lệ, mà nằm ở chỗ nó được đặt đúng vào trái tim của dân tộc và phụng sự cho độc lập, tự do của Tổ quốc.


