Trần Đăng Ninh – "Bao Công" của Cách mạng Việt Nam và Vị tướng hậu cần huyền thoại
Trong thế hệ những nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc của Đảng và Quân đội Nhân dân Việt Nam, Trần Đăng Ninh là một nhân cách vô cùng đặc biệt. Ông không chỉ là một nhà hoạt động cách mạng kiên trung, Ủy viên Trung ương Đảng, người có công lao to lớn trong việc xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai, mà còn được mệnh danh là "Bao Công của cách mạng Việt Nam" nhờ sự chính trực, vô tư và tài xét đoán loại bỏ oan sai. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông chính là vị Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đầu tiên, người đã lãnh đạo "binh đoàn dân công" làm nên một kỳ tích tiếp tế vĩ đại, góp phần quyết định vào chiến thắng chấn động địa cầu.
Trần Đăng Ninh tên thật là Nguyễn Tuấn Đáng, sinh năm 1910 tại xã Quảng Phú Cầu, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay thuộc thủ đô Hà Nội). Sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, từ nhỏ ông đã phải lao động vất vả và sớm thấu hiểu nỗi nhục nhã của người dân mất nước. Lớn lên, ông ra Hà Nội làm thợ in tại nhà in Leven và bắt đầu dấn thân vào con đường cách mạng. Với sự thông minh, can trường và lòng nhiệt huyết, ông nhanh chóng đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1936.
Năm 1941, sau khi phong trào Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra, Trần Đăng Ninh được Trung ương Đảng điều động lên Lạng Sơn để lãnh đạo phong trào cách mạng vùng Đông Bắc. Chính tại đây, ông đã cùng các đồng chí như Phùng Chí Kiên, Lương Văn Tri tổ chức lại Đội du kích Bắc Sơn, xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Võ Nhai vững chắc. Sự mưu trí của ông trong việc dựa vào lòng dân, bám bản, bám rừng đã giúp phong trào du kích phát triển thần tốc, khiến thực dân Pháp điên cuồng khiếp sợ.
Nhận thấy sự nguy hiểm của Trần Đăng Ninh, thực dân Pháp ráo riết bủa lưới mật thám. Cuối năm 1941, ông bị giặc Pháp bắt giữ tại Hà Nội. Chúng dùng mọi cực hình tra tấn tàn khốc nhất họng khuất phục ý chí của ông, rồi kết án ông tù chung thân và đày lên nhà tù Sơn La – nơi nổi tiếng là ngục tối âm u "đi dễ khó về". Thế nhưng, ý chí tự do trong ông không gì giam cầm nổi. Năm 1943, Trần Đăng Ninh đã cùng một số đồng chí thực hiện một cuộc vượt ngục lịch sử chấn động khỏi nhà tù Sơn La để trở về với vương phủ cách mạng, tiếp tục chỉ đạo phong trào chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Sau khi nước nhà giành được độc lập, bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, Trần Đăng Ninh được Đảng và Bác Hồ tin tưởng giao phó nhiều trọng trách đặc biệt nguy hiểm và nhạy cảm. Ông được bổ nhiệm làm Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Đảng và Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị, sau đó kiêm Giám đốc Nha Giám lộ (tiền thân của Tổng cục Hậu cần).
Ở cương vị Trưởng ban Kiểm tra, Trần Đăng Ninh đã để lại những dấu ấn sâu sắc về sự liêm chính, công minh. Ông nổi tiếng là người thẳng thắn, không nể nang, không sợ cường quyền nhưng lại vô cùng thương dân, thương chiến sĩ. Ông đã trực tiếp điều tra và làm rõ nhiều vụ án phức tạp, minh oan cho nhiều cán bộ bị vu cáo, đồng thời kiên quyết trừng trị những kẻ tham nhũng, thoái hóa biến chất. Sự công bằng, sáng suốt và cái tâm trong sáng của ông đã khiến cán bộ, chiến sĩ và nhân dân kính trọng, trìu mến gọi ông bằng cái tên "Bao Công".
Đặc biệt, bước vào giai đoạn quyết chiến chiến lược chống Pháp, Trần Đăng Ninh được phong quân hàm Thiếu tướng và giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần đầu tiên của Quân đội. Trong chiến dịch Biên giới thu đông 1950, và đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, nhiệm vụ bảo đảm hậu cần được xem là một bài toán tưởng chừng như không có lời giải. Quân đội ta phải chiến đấu ở một thung lũng lòng chảo Tây Bắc xa xôi, giao thông hiểm trở, trong khi máy bay Pháp liên tục ném bom bắn phá ngày đêm để cắt đứt các con đường độc đạo.
Với tư duy chiến lược xuất sắc, Thiếu tướng Trần Đăng Ninh đã hiện thực hóa thế trận "Hậu cần nhân dân" vĩ đại. Ông chỉ đạo mở đường, bắc cầu vượt qua các con đèo hiểm trở như đèo Pha Đinh, đèo Lũng Lô. Dưới sự tổ chức tài tình của ông, một "binh đoàn" khổng lồ gồm hơn 26 vạn dân công, hàng vạn chiếc xe đạp thồ (được cải tiến để chở được hàng trăm kg gạo, đạn dược), cùng hàng nghìn thuyền bè, bè mảng đã rầm rộ hướng về Điện Biên Phủ. Bằng bàn tay, khối óc và sức người phi thường, lực lượng hậu cần của ta đã đánh bại hoàn toàn mọi tính toán lý thuyết của các tướng lĩnh quân sự nước Pháp, bảo đảm cung cấp đầy đủ từng hạt gạo, viên đạn cho tiền tuyến "ăn chắc, mặc bền" để đánh thắng kẻ thù.
Tuy nhiên, do những năm tháng hoạt động bí mật bị giặc tra tấn dã man, lại thêm những năm dài lao lực ngày đêm lo toan việc quân, việc nước trên chiến trường, sức khỏe của Thiếu tướng Trần Đăng Ninh đã suy kiệt nghiêm trọng. Ông lâm bệnh nặng và trút hơi thở cuối cùng vào tháng 10 năm 1955 tại Hà Nội, khi mới 45 tuổi – giữa lúc đất nước vừa mới lập lại hòa bình ở miền Bắc.
Sự ra đi đột ngột của ông là một tổn thất vô cùng lớn lao, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng tư lệnh và toàn thể nhân dân. Thiếu tướng Trần Đăng Ninh ngã xuống khi tuổi đời còn khá trẻ, nhưng di sản ông để lại là một tấm gương sáng ngời về lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, sự thanh liêm chính trực của một người cộng sản mẫu mực. Tên của ông đã được đặt cho nhiều đường phố, trường học lớn trên khắp cả nước, mãi mãi khắc sâu trong lòng dân tộc như một biểu tượng đẹp đẽ của công lý và lòng dũng cảm.



