TRẬN ĐÁNH CUỐI CÙNG
Câu chuyện này được kể lại bởi những đồng đội cũ từng chiến đấu với ông nội tôi là liệt sỹ Cao Hồng Toản và trong tư liệu lịch sử của đơn vị ông trong những năm tháng chiến đấu chống Mỹ xâm lược đang diễn ra ác liệt vào năm 1972. Nhiều trận đánh tiêu biểu của Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng đã trở thành huyền thoại bất tử. Trong số đó có trận đánh giũa các tầu phóng ngư lôi của tiểu đoàn 135 trung đoàn 172 Hải Quân nhân dân Việt Nam.
Với các tầu tuần dương, khu trục của hạm đội 7 Hải quân Mỹ ...vào đêm ngày 27/8/1972 tại Vịnh Bắc Bộ.
Đây là một trận đánh quả cảm của các tầu phóng lôi ta và 4 tầu vừa tuần dương và khu trục hiện đại của Mỹ với so sánh lực lượng là hàng trăm lần hơn nghiêng về phía Mỹ ?!?!?! Chính vì vậy, nó mới là trận đánh vào loại bi hùng nhất của Hải quân ta.
Trận này chưa được nói cụ thể trên bất cứ một báo chí tuyên truyền hay sử của Hải Quân Việt Nam hay trong sử của Lữ đoàn 172 thì cũng chỉ có vài dòng chung chung ...Nếu không phải là người đã tham gia thì chẳng có ai hiểu nổi họ định nói lên cái gì.
Đoàn phóng lôi 135 được thành lập ngày 03 tháng 8 năm 1961 với 12 tầu phóng lôi kiểu 123 K (Komsomonles: Thanh niên cộng sản) của Liên Xô gồm các tầu 313, 316, 319 - 323, 326, 329 - 333, 336, 339 - 343, 346, 349 và chia làm 4 phân đội: 1, 2, 3, 4.
Sau 03 năm thành lập, ngày 02/8/1964 phân đội 3 gồm 3 tầu 333, 336, 339 do Trung úy - thuyền trưởng Nguyễn Xuân Bột chỉ huy có đại úy Lê Duy Khoái tiểu đoàn trưởng đi cùng đã xuất kích đánh đuổi khu trục hạm Maddox 731 của Mỹ ra khỏi vùng biển Thanh Hoá mà sử sách của ta và của địch cũng đã nói nhiều ...
Sau đó còn có một số trận đánh nữa cũng đã được nêu trong sử của Hải quân.
Trong quá trình chiến đấu và hoạt động một số tầu đã bị tiêu hao và hư hỏng do lỗi kỹ thuật ...
Đến đầu năm 1972 chỉ còn lại 4 tầu: 313, 316, 319 và 349 là còn hoạt động chiến đấu được chúng tôi thường đùa: " bát gạo cuối thưng của nhà nghèo" chờ nấu nốt!
Thời kỳ này lực lượng tên lửa phòng không của Việt Nam đã đủ mạnh nên máy bay Mỹ gặp khó khăn khi xâm nhập không phận miền Bắc.
Mỹ đã huy động các tầu chiến của hạm đội 7 oanh kích vào các mục tiêu chiến lược ven biển miền Bắc.
Trườc nguy cơ đe doạ của các tầu tuần dương khư trục hạm đội 7 Mỹ, tất cả các tầu phóng lôi hiện có, đều lắp ngư lôi và chia làm 2 biên đội B. Đ 1 (313 và 316) B.Đ 2 (319 và 349), tầu phải rời căn cứ ra vị trí sơ tán tại vịnh Hạ Long như Tùng Gấu, Tùng Chàng, Ông Lệnh, Ổ Lợn ...cập vào các vách núi. Việc sinh hoạt, luyện tập trên các con tầu (ta cứ gọi là tầu chứ thực ra theo phân cấp của Hải quân quốc tế thì nó chỉ là xuồng).
Những con tầu vỏ bằng "đuya ra" ( một loại nhôm cứng ) dầy có 1- 2 ly liên kết với nhau bằng đinh tán như máy bay chiều dài > 20 mét, chiều ngang 3, 6 mét, nặng trên 20 tấn thì quá khó khăn cho cuộc sống của của kíp tầu 10 người chính thức và 3 đến 4 người dự bị ...
Ngày 16/4/1972, Mỹ đánh phá Hải Phòng tái mở chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Lần này chúng sử dụng lực lượng tầu chiến lớn với hoả lực pháo từ 200 đến hơn 300 ly 1 tầu có hoả lực tương đương với 1 phi đoàn máy bay ném bom chiến thuật.
Chúng thường hoạt động vào ban đêm cự ly cách bờ từ 30 - 40 km ngoài tầm bắn của các loại pháo bờ của ta mà lúc ấy ta chưa có tên lửa bờ và tầu phóng tên lửa ...
Nhiệm vụ ngăn chặn các tầu tuần dương, khu trục Mỹ được đặt lên vai 4 chiếc tầu phóng lôi cuối cùng.
Ban ngày thì huấn luyện, ban đêm sẵn sàng xuất kích. Khoảng gần 8 giờ tối ngày 27/8/1972 nhận lệnh báo động chiến đấu. Sở chỉ huy thông báo 4 tàu tuần dương và khu trục đang tiến vào vùng biển Hải Phòng cự ly 38 hải lý? Các lần trước trước khì địch cách 60 hải lý Sở Chỉ huy đã báo động rồi. Không hiểu hôm ấy địch vào gần thế trên mới báo?
Biên đội 2 đang trực cấp 1 với tầu 319 do Trung úy Cao Hồng Toản làm thuyền trưởng, Đỗ Viết Thự thuyền phó cùng trung úy Nguyễn Hồng Cư tiểu đoàn phó, Trung úy Hoàng Tụy trợ lý hàng hải cùng đi trên tầu.
Tầu 349 do Trung úy Lê Văn Miên thuyền trưởng Hoàng Đình Bá thuyền phó Đại úy Chính trị viên Nguyễn Văn Viễn, thiếu úy Trợ lý cơ điện Nguyễn Mai Lộc đi cùng.
Tất cả 2 tầu là 24 cán bộ chiến sĩ đã xuất kích theo lệnh SỞ CHỈ HUY tiền phương trung đoàn 172 đặt tại trạm Radar Cát Bà do ông Lê Duy Khoái trung đoàn phó chỉ huy ...
Sau khi biên đội 2 xuất kích khỏang nửa giờ biên đội 1 ( Đang neo đậu cách biên đội 2 trên 5 hải lý ) do Trung úy Lê Văn Khách - thuyền trưởng 313 chỉ huy Thuyền phó Hoàng Sinh Viên. Thiếu úy Lê Đức Cẩn thuyền trưởng tầu 316, thuyền phó Đồng Xuân Tứ.
Hai tầu xuất phát theo lệnh Khi đi ngang đảo đèn Long Châu thì được lệnh dừng lại chờ lệnh Lúc này ngoài biển có máy bay thả pháo sáng và đạn pháo tầu Mỹ bắn vào đất liền Đèn biển Long Châu vụt tắt. Chúng tôi rất hoang mang không hiểu sự thể ra sao, chừng 15 phút sau lại có lệnh xuất phát đi tới vị trí cách Đông Nam Long Châu 15 hải lý. Trên đường đi, tôi đã dịch bức điện của Sở chỉ huy báo : "02 tàu ta đã mất liên lạc 313 , 316 chuẩn bị đánh tiếp, tìm kiếm 2 tầu 319 và 349 báo cáo SCH " . Dịch xong bức điện tôi lạnh cả sống lưng.
Theo tinh thần bức điện 2 tầu tiến về phía Đông Nam. Khi xác định đã đến vị trí chỉ định nhưng không phát hiện thấy gì, tôi báo cáo thuyền trưởng và điện về SCH: Xin phép đi xa hơn 5 hải lý nữa. Chưa đợi SCH đồng ý hay không, chúng tôi cứ đi, khi đã đi quá cự ly dự định vẫn không thấy gì, lúc này trời đã mờ sáng, Sở Chỉ huy đã báo: Trên trời đang có nhiều máy bay địch và lệnh cho 2 tầu: Quay về ngay! Không thể chần chừ được nữa chúng tôi đành phải quay về với tốc cao nhât trong lòng đầy áy náy ..Tôi lên đài chỉ huy đứng sau thuyền trưởng. Khi nhìn về phía lái tầu, bỗng thấy 1 ánh đèn vừa loé lên trên mặt biển, tôi đề nghị thuyền trưởng và chiếu đèn pin về phía đó. Ánh đèn của tôi vừa loé lên thì lập tức có 3 ánh đèn đáp lại. Tôi chợt thốt lên: Hỏng to rồi !
Lệnh cho tầu 316 cảnh giới tầu 313 thận trọng tiếp cận nơi có ánh đèn. Vào gần chúng tôi đã nhìn rõ 6 người đang lóp ngóp bơi, tôi hỏi : - Tầu đâu rồi ?
Chìm hết rồi !
- Anh em đâu hết rồi ?
- Chết hết rồi !
Tất cả lặng đi. Một vài tiếng nghẹn ngào: Trời ơi !
Tôi nhanh chóng chỉ huy công tác cứu hộ và lần lượt đưa cả 6 người lên boong và đưa xuống khoang tiến hành công viêc sơ cứu .6 người vừa được chúng tôi giành lại từ tay tử thần là: đồng chí Lê Văn Miên thuyền trưởng 349, đ/c Hoàng Văn ( Đức ) Lợi máy trưởng 1, đ/c Vũ Tài Trò máy 2 tầu 349, đ/c Nguyễn Việt Cường máy 2, đ/c Trần Văn Lương ngư lôi, đ/c Đoàn Văn Phê pháo thủ tầu 319, tất cả đều bị thương, máu của họ đã hòa trong nước Biển Đông hàng giờ rồi ( Nhưng tiếc rằng đến thời điểm này có 3 người: Vũ Tài Trò, Trần Văn Lương, Nguyễn Việt Cường sau nhiều năm phục vụ Hải quân hoặc phục viên đã thành tử sĩ ).
Sau khi đã tỉnh táo thuyền trưởng Miên và anh em đã kể lại diễn biến trận đánh như sau : ... " Khi tầu ta tiếp cận đến cự ly mở Radar chuẩn bị vào hướng chiến đấu thì tầu 319 bị 1 quả tên lửa "Tầu đối Tầu" của tầu địch bắn trúng vào mạn trái. Sức nổ phá vỡ từ khoang máy, qua đài chỉ huy đến khoang phụ nơi lắp máy phát Radar Bệ phóng và ngư lôi bên trái đều bay xuống biển. Tầu nghiêng lớn sang phải nên không bị chìm, thuyền phó, máy trưởng, tín hiệu viên, tiểu đòan phó Cư hi sinh ngay, thuyền trưởng Cao Hồng Toản bị cụt mất cả 2 chân nhưng vẫn sống một số khác hy sinh và bị thương ...
Thấy tầu 319 mất cơ động, thuyền trưởng 349 tăng tốc độ chiếm lĩnh trận địa phóng khí còn cách tầu địch khoảng hơn 1 cây số bị địch bắn pháo dữ dội, tầu đã bị trúng nhiều loạt đạn và bị đứt dây cáp máy lái nên mất điều khiển và tầu địch đã chạy thoát ...Thuyền trưởng Miên đã dùng cần tốc độ điều khiển tầu quay lại cập mạn và cấp cứu tầu 319. Khi đang tiến hành công việc trợ cứu thì tầu 319 và 349 cùng chìm. Tất cả những người còn sống đều bị rơi xuống biển, anh em đã dùng phao bè và phao cá nhân đặt thuyền trưởng Toản lên và bơi đẩy bè quay về hướng bờ, một số đồng chí đã bơi mà không có phao cá nhân ...
Sau một thời gian được đồng đội dìu kéo, cảm thấy mình gây cản trở cho anh em, thuyền trưởng Toản đã nói: Các đồng chí cắt phao thả tôi ra hãy bơi về báo cáo với Đảng là tôi đã hoàn thành nhiệm vụ! Ôi 1 lời nói anh hùng cất lên từ miệng của 1 một người thuyền trưởng khi mình sắp chết. Anh em không thể nghe theo, chỉ đến khi biết anh Toản đã thật sự hi sinh, biết không thể làm gì hơn nên đành vĩnh biệt và thả anh vào lòng biển. Sau khi rời tầu những người còn sống đã chia thành các tốp nhỏ và tầu của chúng tôi chỉ cứu vớt được 1 nhóm thôi, còn 18 người khác mất tích và coi như đã hy sinh ".
Nếu như không có những người đã may mắn trở về thì thì trận đánh của các anh, trận đánh cuối cùng của đời quân ngũ của các anh, trận đánh cuối cùng của tầu phóng lôi d135 mãi mãi chìm trong bóng tối mà thôi.



