Trận đánh đập tan “Lá chắn thép Phan Rang”
Trong chiến dịch giải phóng Ninh Thuận tháng 4/1975, ông chỉ huy Đại đội Đặc công 311 đối đầu với quân địch tại "Lá chắn thép Phan Rang" – tuyến phòng thủ dày đặc nhằm bảo vệ Sài Gòn từ xa. Dù bị thương nặng trong trận đánh tiêu diệt tàn quân địch từ Đà Lạt tháo chạy vào đêm 02/4, ông Nghĩa vẫn nén đau, chống gậy trực tiếp chỉ huy đơn vị hoạt động bí mật trong lòng thị xã. Từ ngày 07/4, Đại đội 311 đã phối hợp cùng quân chủ lực xé toạc tuyến phòng thủ, kiên cường đánh lui 16 đợt phản kích tại cá
Năm 1962, ông rời quê hương Bến Tre lên Mật khu R, căn cứ địa cách mạng thuộc Chiến khu Bắc Tây Ninh (Trung ương Cục miền Nam) tham gia huấn luyện, chiến đấu tại mặt trận Đông Nam Bộ. Đến giữa năm 1965, ông được cấp trên điều động về công tác ở Ninh Thuận. Từ năm 1962 đến 1975, ông Nghĩa đã tham gia hàng trăm trận đánh lớn, nhỏ với 11 lần bị thương nặng, có lúc tưởng như cận kề cái chết, nhưng ông cùng đồng đội đã lập lời thề chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, luôn tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ về một ngày thắng lợi hoàn toàn. Trong những trận đánh ác liệt ấy, ông Nghĩa nhớ như in trận đánh vào tháng 4/1975 góp phần đập tan “Lá chắn thép Phan Rang” do chế độ Việt Nam Cộng hòa dựng nên. Đầu năm 1975, sau khi thất thủ ở Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng và nhiều địa bàn trọng yếu các tỉnh dọc Duyên hải miền Trung, chính quyền Việt Nam Cộng hòa hốt hoảng tìm mọi cách trấn giữ Sài Gòn. Chúng vội vã xây dựng tuyến phòng thủ mạnh ở Phan Rang, hô hào “tử thủ” để bảo vệ Sài Gòn từ xa, ý đồ của chúng phải giữ cho bằng được Phan Rang, lập lá chắn ở đây để chặn đường bộ, đường biển của quân giải phóng. Tại Phan Rang, quân địch tăng cường tập trung lực lượng gồm: Sư đoàn không quân số 6, 2 Trung đoàn và Tiểu đoàn bộ binh, 1 Liên đoàn biệt động quân, 2 chi đoàn xe tăng, 1 hạm đội ở ngoài khơi sẵn sàng chi viện. Tất cả các đơn vị trên được bố trí tạo thành tuyến phòng thủ dày đặc từ Du Long vào đến Trung tâm thị xã Phan Rang và Sân bay Thành Sơn, do Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 trực tiếp chỉ huy.
Về phía ta, quán triệt quyết tâm chiến lược của Bộ Chính trị hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam trong tháng 4/1975, sau khi hai tỉnh Khánh Hòa và Lâm Đồng được giải phóng từ các ngày 2 đến 3/4/1975, Khu ủy và Quân khu 6 chỉ đạo Tỉnh ủy Ninh Thuận phải phát huy mọi lực lượng ở đồng bằng và căn cứ tiến ngay ra phía trước tấn công địch, cùng quần chúng nổi dậy giải phóng quê hương.
Để bảo vệ lực lượng chốt giữ trong tuyến phòng thủ, địch liên tục cho máy bay bắn phá các khu vực nghi có lực lượng của ta đóng quân, phá sập cầu cống ở hai hướng Quốc lộ 1 và đường 11 để ngăn chặn bước tiến của quân ta. Lúc này, ông Nghĩa được Tỉnh đội Ninh Thuận giao nhiệm vụ chỉ huy Đại đội Đặc công 311 thực hiện nhiều cuộc tấn công ngăn chặn, tiêu diệt tàn quân địch từ Đà Lạt tháo chạy theo đường 11 xuống Ninh Thuận để ra Quốc lộ 1 chạy về Sài Gòn.
Trong một trận đánh đêm 2/4/1975, trên đường 11, tại địa phận các ấp Trà Giang – Sông Mỹ, quân địch từ Đà Lạt tháo chạy xuống đã điên cuồng dùng pháo 105 ly bắn phá ác liệt để mở đường xuống Phan Rang, nhưng gặp phải sự chống trả quyết liệt của Đại đội Đặc công 311 và bộ đội địa phương. Lực lượng địch ở quận lỵ K’rông Pha rúng động, tháo chạy tán loạn. Trong trận đánh này, ông Nghĩa trúng đạn bị thương nặng và được đơn vị đưa về căn cứ Bác Ái chữa trị. Cấp trên yêu cầu Đại đội Đặc công 311 hỗ trợ đánh vào Phan Rang, sân bay Thành Sơn, để giữ vững cơ sở, khi thời cơ đến sẽ giải phóng Ninh Thuận sớm nhất. Với quyết tâm chiến đấu, dù đang bị đau đầu, chảy máu cam, nhưng tôi cố gắng chống gậy xuống Tháp Chàm tiếp tục chỉ huy đơn vị đặc công hoạt động bí mật trong lòng thị xã Phan Rang, phối hợp với quân chủ lực Sư đoàn 3 Sao Vàng, cùng bộ đội địa phương tấn công quân địch trong thị xã nhằm xé toạc tuyến phòng thủ Phan Rang. Đến 19 giờ ngày 7/4/1975, Đại đội Đặc công 311 chia làm ba mũi tấn công, phối hợp cùng lực lượng vũ trang trong thị xã Phan Rang tấn công quân địch ở trại Nguyễn Hoàng, Ga Tháp Chàm, Cầu Móng, ngã ba Tháp Chàm, quận lỵ Bửu Sơn. Quân địch ở phi trường Thành Sơn tung lực lượng ra phản kích quyết liệt, nhưng Đại đội Đặc công 311 và bộ đội địa phương vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu suốt 2 ngày đêm trong lòng địch, đánh lui 16 đợt phản kích, kêu gọi hơn 200 tên địch đầu hàng quân cách mạng, thu giữ gần 500 khẩu súng các loại khiến quân địch ở Phan Rang suy yếu.



