Bài viết

TRẬN ĐÁNH ĐỂ ĐỜI.

Quảng Trị19/01/2026XÃ ĐOÀN HẢI LĂNG (XÃ ĐOÀN HẢI LĂNG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Gặp Đại tá Lường Văn Khoa 76 tuổi, nguyên Phó hiệu trưởng Trường Quân sự Qk7 tại căn nhà ấm cúng, giản dị trên đường Tô Hiệu, phường Hiệp Tân, quận Tân Phú vào một buổi chiều cuối tháng 7. Tại đây, chúng tôi được nghe ông kể nhiều câu chuyện về sức gan lỳ, sự mưu trí và lòng dũng cảm của “lính đặc công” mà ông cùng đồng đội không ít lần trong trạng thái “cận kề sinh tử” trên chiến trường miền Đông Nam Bộ những năm 1968-1975. Qua những câu chuyện ông kể, người nghe bị cuốn hút như được trở về ký ức của thời khắc đã diễn ra cách nay hơn nửa thế kỷ.

Trả lời câu hỏi: Dấu ấn sâu đậm nhất đọng lại trong ông là trận đánh nào trong hàng chục trận đánh tại chiến khu ác liệt này?Không cần suy nghĩ, ông cho biết:“Với tôi, tất cả những lần giáp trận mà mình từng tham gia tại mảnh đất “miền Đông gian lao mà anh dũng” đều là những kỷ niệm khó quên. Chẳng hạn như lần đầu vào trận, phải bò qua 20 lớp rào dây thép gai và bãi mìn tại chốt Kà Tum (Tân Đông, Tân Biên) để trinh sát, nắm địch mà khi ra khỏi chốt chân tay cứng đờ, nằm bất động. Hoặc lần đánh chốt Mỹ tại Cầu Vịnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Trận đánh hôm ấy bị lộ, địch lập túc phát hỏa, quân ta rút ra bằng lối khi vào. Phần bị mìn, phần bị pháo, 9 cán bộ, chiến sĩ hy sinh mà chưa đánh được địch. Rồi đến những lần phải đội tới hàng chục loạt bom B.52 trong mỗi đêm tại Phước Long khi đối đầu với Sư đoàn kỵ binh bay của Mỹ…Thế nhưng, nói về hiệu suất thì trận tập kích sân bay Pochentong, Campuchia của quân đội Lon Non ngày 22/1/1971 là đạt hiệu suất chiến đấu cao nhất, kể từ khi tôi đặt chân đến chiến trường Đông Nam bộ cuối tháng 4/1968, mà tôi thường kể với lớp trẻ khi được mời giao lưu kể chuyện. “Đó là trận đánh để đời”!Và, ông Khoa kể lại trong niềm tự hào:“Cuối tháng 12/1970, Bộ chỉ huy Miền thông qua Bộ chỉ huy Sư đoàn 1 (Đoàn Phước Long) giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn 7 đặc công (do tôi làm tiểu đoàn trưởng) phối hợp với Z25, Đoàn 367 đặc công, biệt động của Miền đánh vào sân bay Pochentong, thủ đô Phnom Penh, Campuchia”.Sân bay Pochentong là sân bay quốc tế lớn nhất ở Campuchia lúc bấy giờ, được xây dựng khá kiên cố. Các vị trí trọng yếu địch đều bố trí hỏa lực mạnh. Tại sân bay đang chứa hơn 100 máy bay chiến đấu và vận tải của ngụy quân Lon Non. Ngày 18/1/1971, sân bay này tiếp nhận thêm 30 máy bay quân sự của quân đội Sài Gòn viện trợ để chuẩn bị hiệp đồng mở cuộc càn “Toàn thắng 1-71-NB” đánh vào tỉnh các Tây Ninh, Bình Long (Việt Nam) và hai tỉnh Kong Pong Chàm và Kra Chê, Đông Bắc Campuchia.Nhận lệnh xuất kích, các đơn vị hành quân đến vị trí đứng chân. Khi đến nơi, Z25 và Tiểu đoàn 7 tổ chức trinh sát và nắm địch, được sự hỗ trợ thông tin của Cụm tình báo Z20.Đêm thứ nhất, Z25 và Tiểu đoàn 7 tổ chức trinh sát thực địa, đồng thời tiếp cận bản đồ không ảnh và tin tức từ cụm tình báo Z20 cung cấp, tạm chia sân bay thành 3 khu: Khu A quân sự, Khu B dân sự (hỗn hợp), Khu C hệ thống kho. Khu A do Z25 đảm nhận, Khu B và Khu C do Tiểu đoàn 7 chịu trách nhiệm, trong đó khu B và Khu C được chia thành 2 Khu: B2, B3; C2, C3.“Sau khi các mục tiêu được xác định, tôi thống nhất cùng Ban chỉ huy Tiểu đoàn phân công và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ chỉ huy các mũi (4 mũi). Sau hai đêm trinh sát xác định mục tiêu, chúng tôi hạ quyết tâm đánh!”.“Khi trở căn cứ đứng chân. Chúng tôi vẽ sơ đồ, lập thao trường đánh thử, thời gian luyện tập từ 2 giờ đến 4 giờ sáng mỗi ngày, kéo dài 2 tuần”. “Chiều 21/1/1971, toàn tiểu đoàn xuất phát với quân số 120 cán bộ, chiến sĩ, trang bị vũ khí: B40, B41, AK, thủ pháo, lựu đạn, súng ngắn. Tất cả theo cơ số qui định. 17 giờ cùng ngày đến cứ tạm dừng, 19 giờ tiếp cận mục tiêu, 22 giờ đến chân hàng rào, 23 giờ bộ đội vượt rào đột nhập sân bay ém sẵn chờ lệnh”.“Đúng 23 giờ 30, Sở chỉ huy tiểu đoàn di chuyển vào tiếp cận cổng chính sân bay quan sát và chỉ huy 3 mũi bằng máy Icom. Tại đây, tôi, đồng chí Ngôn-Chính trị viên Tiểu đoàn, chỉ huy các mũi, xử lý các tình huống phát sinh (phục vụ cho sở chỉ huy còn có y tá Long, y sỹ Hậu cùng 4 trinh sát của tiểu đoàn).Đến 24 giờ, các mũi đã ém xong. Đúng 0 giờ ngày 22/1/1971, hướng Khu A (khu vực sân bay quân sự) do Z25 đảm nhận nổ súng, tiếng bộc phá, rồi tiếng nổ từ bãi đỗ máy bay quân sự, kho đạn, xăng dầu, nổ tung đùn các khối cầu lửa lên cao làm sáng rực một góc sân bay.“Cùng lúc, theo hiệp đồng, toàn Tiểu đoàn 7 đồng loạt nổ súng, tôi nghe rõ tiếng nổ của thủ pháo lựu đạn, của B40, B41 nghe ùng oàng và cả từng hồi liên thanh của súng AK, sau loạt tiếng nổ ấy là các cột lửa bốc cháy dữ dội tại các mục tiêu. Cảnh tượng lúc đó thật “sướng lỗ tai, đã con mắt”.Khi đó, tôi ở vị trí chỉ huy gần Khu B, vô tình bị 1 miểng đạn vào đầu gối trái. Đang lúc băng bó vết thương thì một tiếng nổ long trời, tường dãy nhà sau “quan sát Sở” đổ sập, tốc mái, hàng dừa tơi tả. Chúng tôi xác định là đã đánh trúng kho bom. Từ đó, các kho khác tiếp tục nổ từng đợt xen kẽ với tiếng nổ của đạn pháo. Cháy nổ kéo dài đến 4 giờ sáng”.Theo hiệp đồng, 4 giờ sáng các mũi phải rời khỏi trận địa để đến lúc 5 giờ thì pháo ĐKB của ta bắn khống chế địch trong sân bay cho các mũi lui quân.“Chờ đến 6 giờ, hết giờ pháo bắn, tôi kiểm tra còn thiếu mũi đồng chí Nguyễn Xuân Tạ, Tiểu đoàn phó (đánh vào khu kho bom). Lập tức tôi cùng 2 trinh sát và y tá Long đi dọc hàng rào tìm kiếm đồng đội. Khi đến cửa mở khu B2 (khu kho bom), thấy đồng chí Tạ lóp ngóp bò ra, đồng chí Tạ báo cáo mà như muốn khóc vì đồng chí Chữ (quê Hà Tây), Chính trị viên phó đại đội đã hy sinh. Kho bom nổ đã hất văng đồng chí Chữ rơi xuống hồ nước, nhưng anh em mò mãi không thấy. Cùng lúc đó tiếp tục có 3 thương binh nặng, nên rời trận địa chậm. Trong số ấy, đồng chí Việt (quê Hải Phòng) đã hy sinh ngay trước mặt tôi, tôi đứng lặng người, nước mắt trào ra…”.Khi rút quân, quân địch phát hiện quân số của ta ít, liền tập trung lực lượng bao vây.“Tôi tập hợp quân số của 2 mũi rút theo hướng này chỉ còn 13 cán bộ, chiến sĩ cùng với 2 khẩu B.40, 8 khẩu AK, 2 khẩu súng ngắn triển khai phương án chiến đấu, khiêng cáng đưa thương binh, tử sĩ về hướng xuất phát tối 21/1. Vừa rút vừa đánh trả, vì vũ khi và đạn còn quá ít, tôi lệnh cho anh em là khi địch đến, để thật gần mới nổ súng, diệt được tên nào, lấy vũ khí để trang bị cho ta. Cứ như vậy, mãi đến 3 giờ sáng ngày 23/1 mới về đến cứ”.Kết quả, ta phá hủy 104 máy bay, đốt cháy số lượng lớn xăng dầu, phá hủy, phá hỏng nhiều thiết bị hàng không, xe quân sự, tiêu diệt nhiều lính bảo vệ sân bay, giặc lái và nhân viên kỹ thuật. Báo chí nước ngoài đưa tin: Mỹ mở rộng chiến tranh sang Đông Dương là sai lầm để Cộng sản dùng lực lượng nhỏ tiêu diệt hết một Quân chủng Không quân của một quốc gia.Về tổn thất của tiểu đoàn 7, bị thương 12, hy sinh 3.Tháng 3/ 1971, tại hội nghị quân chính sư đoàn đã công bố, Tiểu đoàn 7 đặc công được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba./

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn