Bài viết

Trận đánh đi vào lịch sử của Anh hùng phi công Lê Thanh Đạo

Ninh Bình21/04/2026Trần Công Khánh (Xã Yên Đồng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở tuổi ngoài 80, mái tóc bạc trắng nhưng giọng nói sang sảng với trí nhớ mẫn tiệp, phi công, Anh hùng LLVT nhân dân Lê Thanh Đạo, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng ban Dân vận Trung ương vẫn nhớ như in những trận đánh đi vào lịch sử của mình trong cuộc chiến đấu với không quân Mỹ thời quân ngũ.

“Cháy rồi còn đâu!”

Sinh năm 1943 (theo hồ sơ là 1944) tại TP Hà Nội, ngay khi tốt nghiệp cấp 3, Lê Thanh Đạo tình nguyện nhập ngũ về Trung đoàn 84, Sư đoàn Pháo binh 351 rồi được lựa chọn đi học sĩ quan pháo binh tại Sơn Tây. Nhưng chưa đầy 10 tháng sau, ông vinh dự được tuyển chọn sang Liên Xô học lái máy bay chiến đấu.

Năm 1968, với 200 giờ bay huấn luyện tích lũy, Lê Thanh Đạo hoàn thành khóa học trở về nước, được biên chế về Phi đội 1, Trung đoàn Không quân 921 và bước vào cuộc chiến đấu chống chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ. Trên máy bay MiG-17, rồi MiG-21, phi công Lê Thanh Đạo đã 60 lần xuất kích, 13 lần gặp địch, bắn rơi 6 máy bay F-4 của Mỹ, trong đó có 5 chiếc bắn rơi tại chỗ bằng 5 quả đạn tên lửa; yểm hộ và tạo điều kiện cho đồng đội bắn rơi 5 máy bay khác. Ông là một trong số ít phi công Việt Nam đạt cấp ACE (bắn hạ từ 5 máy bay đối phương trở lên).

Nhớ về những năm tháng tuổi trẻ, ông nói chưa bao giờ nghĩ mình sẽ trở thành phi công. Đó là sự hữu duyên. Cái duyên ấy đã tiếp cho ông động lực cũng như niềm tin để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù trên bầu trời Tổ quốc.

Những ngày mới về nước, phi công Lê Thanh Đạo chủ yếu theo các phi công tiền bối huấn luyện làm quen với điều kiện chiến đấu trong nước chứ chưa thực chiến. Phải đến 3 năm sau, ngày 18-12-1971, ông mới xuất kích đánh trận đầu tiên. Phi công Lê Thanh Đạo hồi tưởng: “Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng tôi vẫn nhớ như in trận không chiến ngày 10-5-1972. Sáng hôm đó, Biên đội Ngự và Ngãi đang trực chiến ở sân bay Kép thì biên đội của tôi và anh Hợp cũng được lệnh vào trực. Lúc ra đến sân bay, chúng tôi nhìn thấy tốp máy bay F-4 của địch vừa bay qua. Khi đó, biên đội Ngự và Ngãi được lệnh cất cánh”.

Hôm đó là kíp trực của phi công Võ Chí Giáp và Phạm Phú Thái. Nhưng do đại đội có việc giao cho Phạm Phú Thái nên Lê Thanh Đạo vào trực thay. Khi có lệnh báo động chiến đấu, ông khẩn trương làm công tác chuẩn bị và vào vị trí. Biên đội của Lê Thanh Đạo bay theo hướng 270 độ về phía Tây và liên tục được sở chỉ huy mặt đất thông báo về khoảng cách, số lượng máy bay địch. Ông nhớ lại: “Chừng 10 phút bay theo đài dẫn đường mới thấy chiếc F-4 của địch, tôi liền bám theo. Khi bắt được mục tiêu, qua bộ đàm, tôi xin lệnh không kích và thực hiện đúng những động tác đã được luyện tập rồi nghiêng trái thoát ly, đồng thời báo với số 2 bắn tiếp. Qua đường dây, tôi nghe rõ tiếng Giáp hô: “Cháy rồi còn đâu!”.

Bằng một quả đạn, ngay trận đầu không chiến, phi công Lê Thanh Đạo đã thành công tiêu diệt máy bay địch. Tuy nhiên ngay chiều hôm đó, ông lại đau đớn nhận tin một đồng đội của mình hy sinh trên bầu trời Yên Bái. Niềm vui chiến thắng và nỗi buồn ly biệt có thể đến bất cứ lúc nào. Nhưng trong mọi tình huống, những người lính Bộ đội Cụ Hồ chưa bao giờ nao núng. Cá nhân đồng chí Lê Thanh Đạo trong chiến đấu từng hai lần phải nhảy dù thoát ly máy bay. Mặc dù hai chân đều bị thương nhưng ông quyết tâm rèn luyện, phục hồi sức khỏe và trở lại đội hình chiến đấu chỉ sau 6 tháng.

Trận đánh lịch sử ngày 10-5-1972

Thời gian này, ông được biên chế về Phi đội 9 (Đại đội 9), Trung đoàn 927 mới thành lập ngày 3-2-1972 trên cơ sở lực lượng phi công nòng cốt lấy từ Phi đội 3 (Đại đội 3) của Trung đoàn 921. Cùng đồng đội, phi công Lê Thanh Đạo tiếp tục chiến đấu và lập công với trận đánh ngày 10-5-1972, được ghi vào lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam là trận chiến đấu ác liệt, nhiều kỷ lục nhất trên mặt trận không đối không ở Việt Nam. Phía Mỹ công bố đã cho 388 lần chiếc máy bay đánh phá miền Bắc. Phía Việt Nam, bộ đội không quân đã xuất kích 64 lần chiếc gồm 22 tốp trên cả 3 loại máy bay được trang bị là MiG-21, MiG-19 và MiG-17. Trong lần xuất kích của mình, biên đội Lê Thanh Đạo và Vũ Văn Hợp đã lập công xuất sắc. Khi ấy, Trung đội trưởng Lê Thanh Đạo mang quân hàm Trung úy.

Qua lời kể của anh hùng phi công Lê Thanh Đạo và những ghi chép trong tài liệu lịch sử của Sư đoàn 371 (Quân chủng Phòng không - Không quân), 12 giờ 50 phút hôm đó, biên đội MiG-21 gồm Lê Thanh Đạo (số 1), Vũ Văn Hợp (số 2) được lệnh sẵn sàng cất cánh, đánh cường kích và tiêm kích đối phương trên tầng cao, phối hợp với biên đội MiG-17 đánh ở tầng thấp, bảo vệ cầu Lai Vu và cầu Phú Lương.

Anh hùng Lê Thanh Đạo nhớ lại: “Chúng tôi được lệnh cất cánh từ sân bay Kép (Bắc Giang), bay hướng 360 độ rồi vòng phải hướng 180 độ. Theo đài dẫn đường và hiệu lệnh từ sở chỉ huy, khi cách địch khoảng 10km, biên đội phát hiện hai máy bay địch đang ở hướng đối đầu. Tôi quyết định thả thùng dầu phụ, tăng lực vượt lên bám chiếc trên cao. Số 2 Vũ Văn Hợp bám chiếc dưới thấp. Với việc đồng thời công kích, chỉ cách nhau 3 giây, chúng tôi lần lượt bắn rơi tại chỗ hai chiếc F-4. Những chiếc F-4 còn lại vội quăng bom bừa bãi rồi tháo chạy ra biển”.

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, biên đội MiG-21 do phi công Lê Thanh Đạo bay số 1 chỉ huy nhanh chóng thoát ly trở về sân bay. Tuy nhiên, gần tới Kép, biên đội phát hiện 2 tốp F-4 đang khống chế sân bay, máy bay của Vũ Văn Hợp đã hết dầu buộc phải hạ cánh. Trong tình huống bất ngờ ấy, Lê Thanh Đạo đã bình tĩnh yểm hộ cho đồng đội, phối hợp với hỏa lực pháo phòng không mặt đất để tạo hành lang an toàn cho số 2 hạ cánh. Còn ông, được lệnh của sở chỉ huy và với sự thông thuộc địa hình, đã bay thẳng về hạ cánh an toàn tại sân bay Nội Bài.

Nói về đồng đội của mình, phi công Vũ Đình Rạng, người cùng đoàn học viên sang Liên Xô đào tạo năm 1965 và trở về nước năm 1968 cho biết: “Trải qua những năm tháng chiến tranh gian khổ ác liệt, chúng tôi lúc nào cũng có nhau. Mỗi khi nhắc lại kỷ niệm xưa, ai cũng tràn đầy niềm tự hào vì lớp phi công chúng tôi đã góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Anh Đạo luôn là hạt nhân đoàn kết để anh em học tập, noi theo”.

Ngày 11-1-1973, phi công Lê Thanh Đạo được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Đến năm 1974, mang quân hàm Đại úy, ông trở thành sĩ quan biệt phái sang nhận nhiệm vụ là Bí thư thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Năm 1983, ông chính thức chuyển ngành.

Trải qua nhiều vị trí công tác, nhưng những năm tháng ngồi trong buồng lái, cùng đồng đội trên những con "én bạc" chiến đấu bảo vệ bầu trời Tổ quốc vẫn mãi là ký ức không phai mờ trong trái tim người phi công anh hùng Lê Thanh Đạo. Tâm sự với chúng tôi, ông nói: “Chuyến bay cuộc đời tôi bắt đầu từ những chiếc chiến đấu cơ. Giờ đây, tuổi cao, sức yếu, tôi và đồng đội vẫn tiếp tục thực hiện những chuyến bay khác đặc biệt hơn, đó là truyền lửa nhiệt huyết cho thế hệ trẻ hôm nay”.

BÀI 10 Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Bùi Xuân Hình: Ánh sáng từ kỷ vật và lời hẹn ước đoàn viên

Chiến tranh trong ký ức của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân Bùi Xuân Hình, nguyên Phó tham mưu trưởng Binh chủng Đặc công, không chỉ được khắc họa bằng những trận đánh ác liệt mà còn hiện lên qua ký ức từ những kỷ vật gắn với một đời binh nghiệp.

“Bão lửa” ở Pochentong và kỷ vật soi đường

Chúng tôi đến thăm ông Hình vào một buổi chiều đông tại tư gia ở xã Tân Lạc, tỉnh Phú Thọ. Trong không gian ấm cúng, giữa mùi trà thơm và cái se lạnh của vùng đất trung du, câu chuyện về một thời “lửa đạn” bắt đầu thật tự nhiên. Khi nhắc lại những ngày tháng xẻ dọc Trường Sơn, ánh mắt người cựu chiến binh bỗng sáng lên một vẻ tinh anh lạ thường, như thể mọi ký ức của hơn nửa thế kỷ trước vừa mới chỉ diễn ra vào ngày hôm qua. "Kỷ niệm chiến trường thì tôi có nhiều lắm. Năm 1967 tức là 22 tuổi, tôi xung phong nhập ngũ, rồi cùng lớp lớp thanh niên hành quân ra chiến trường. Để mà nói là bồi hồi thì phải kể đến cuộc tiến công vào sân bay Pochentong trên đất bạn Campuchia", ông Hình nhấp chén trà, bắt đầu hồi tưởng.

Theo đó, năm 1971, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và mở rộng thành “Đông Dương hóa chiến tranh”. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến diễn ra ác liệt, bộ đội đặc công Việt Nam cùng lực lượng cách mạng Campuchia tiến hành cuộc tiến công vào sân bay Pochentong - không quân hỗn hợp lớn nhất của ngụy quân Lon Nol. Đây là mục tiêu chiến lược, được địch tổ chức phòng thủ dày đặc, hỏa lực mạnh, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống không quân của chúng. Từ đây, hàng trăm máy bay Mỹ, ngụy liên tục cất cánh đi đánh phá các căn cứ của ta ở Tây Nguyên và Nam Bộ.

Lúc bấy giờ, J16 đặc công cơ giới Miền (một trong những đơn vị tiền thân của Lữ đoàn 429, Binh chủng Đặc công hiện nay) được giao nhiệm vụ phối hợp với đơn vị bạn tập kích phá hủy sân bay Pochentong. Sau khi các đơn vị hoàn thành công tác trinh sát, đêm 21, rạng sáng 22-1-1971 là thời gian được cấp trên chuẩn y tấn công vào Pochentong. Khi ấy, trên cương vị Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 7, ông Hình trực tiếp chỉ huy các mũi của đơn vị phối hợp cùng đơn vị bạn đánh vào khu vực bãi đậu máy bay. Trận đánh kết thúc lúc 5 giờ ngày 22-1-1971, gây tiếng vang lớn khi chỉ sau 3 giờ chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt gần 1.000 tên địch, trong đó có 300 giặc lái và nhân viên kỹ thuật, hơn 100 máy bay, 9 kho bom đạn, xăng dầu hậu cần. Toàn bộ sở chỉ huy sân bay Pochentong của địch bị phá hủy hoàn toàn, qua đó lập nên một trong những chiến công tiêu biểu của bộ đội đặc công Việt Nam trên đất Campuchia.

Chính trong trận đánh khốc liệt ấy, ông thu được chiếc đèn pin cổ nghéo (hay còn gọi là đèn pin chữ L, đèn pin góc vuông hoặc đèn pin cong) do Mỹ sản xuất - một chiến lợi phẩm nhỏ bé giữa chiến trường ác liệt.

Sau trận đánh ấy, chiếc đèn pin tiếp tục theo ông Hình trên những chặng đường chiến đấu sau này. “Trong những cuộc hành quân bí mật ban đêm, khi mỗi bước đi đều phải thận trọng tuyệt đối, ánh sáng hẹp và cụp của chiếc đèn pin giúp soi đường, đọc bản đồ, giữ nhịp liên lạc mà vẫn bảo đảm yếu tố bí mật”, ông nhớ lại.

Với người lính đặc công, chiếc đèn pin ấy không chỉ là phương tiện tác chiến mà còn là người bạn đồng hành thầm lặng trong những đêm dài hành quân căng thẳng, nơi sự sống còn nhiều khi chỉ được phân định bằng một vệt sáng nhỏ. Nó gắn với những bước chân lặng lẽ, những giờ phút chờ đợi, những quyết định sinh tử không thể lùi lại phía sau.

Tháng 12-2018, Đại tá Bùi Xuân Hình trao tặng chiếc đèn pin cổ nghéo cho Bảo tàng Quân khu 3. Ông chia sẻ: “Cái đèn này theo tôi cả đời lính. Tôi trao lại cho bảo tàng, coi như gửi lại kỷ niệm của chiến tranh, để lớp trẻ sau này nhìn vào biết được cha anh đã từng chiến đấu anh dũng như thế nào”.

Búi dù - hẹn ước ngày trở về

Câu chuyện của chúng tôi bỗng chốc rộn ràng hơn khi bóng dáng bà Bùi Thị Mến xuất hiện nơi ngưỡng cửa, trên tay là chiếc làn đi chợ về. Ông Hình đon đả đỡ làn, rồi mời bà vào nhà rồi quay sang nói: Sau những trận chiến khốc liệt, sau bom đạn và những cuộc hành quân không hẹn ngày về, tôi luôn có một điểm tựa lặng lẽ ở phía sau. Đó chính là bà ấy.

Ông Hình và bà Mến vốn là đôi bạn gắn bó với nhau từ thuở thiếu thời. Lớn lên dưới cùng một lũy tre làng, tuổi thơ của họ quyện vào nhau trên con đường đất dẫn tới trường.

Trước ngày lên đường ra chiến trường, trong buổi chia tay của gia đình, chàng trai 22 tuổi năm ấy nhẹ nhàng quay sang người bạn thanh mai trúc mã và nói một câu mộc mạc: “Đi nhé, ở nhà nhé. Đi rồi lấy dù về cho!”. Câu nói tưởng như bâng quơ ấy lại trở thành một lời hẹn cho ngày trở về, được người ở lại giữ trọn bằng niềm tin và người ra đi mang theo suốt hành trình chiến đấu.

Năm 1969, giữa chiến trường khốc liệt, sau một trận đánh thắng quân Mỹ, ông Hình thu được một chiếc dù của địch. Ông cẩn thận cuộn mảnh dù ấy lại thành một búi. Suốt những năm tháng hành quân gian khổ, ông giữ trọn búi dù bên mình. Với ông, búi dù ấy không chỉ là chiến lợi phẩm, mà còn mang một ý nghĩa sâu xa hơn: Biểu tượng của chiến thắng và cũng là dấu mốc 8 năm đằng đẵng mà người con gái nơi hậu phương âm thầm chờ ngày ông trở về. Chính niềm tin ấy đã thắp lên trong ông ý chí bền bỉ và động lực chiến đấu, giúp người lính đặc công đánh thắng kẻ thù xâm lược, đi trọn con đường cống hiến vì Tổ quốc thân yêu.

Bà Mến đưa mắt nhìn ông, bồi hồi nhớ lại: “Ông ấy đi miết, không có lấy một lá thư. Mỗi lần thấy cán bộ đi báo tử từng nhà, trong lòng tôi thắt lại, chỉ sợ nghe tin dữ của ông. Nhưng rồi sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông ấy trở về và mang một búi dù cho tôi thật!”.

Sau đó, một lễ cưới diễn ra. Không cỗ bàn linh đình, ngày vui của người lính đặc công và người con gái son sắt chỉ vỏn vẹn có 2 con gà để làm cơm. Giản dị, nhưng đầm ấm và trọn vẹn nghĩa tình. Búi dù năm xưa là kỷ vật chiến tranh, đồng thời là chứng nhân cho một mối tình sắt son, vượt qua mọi bom đạn và thử thách của thời gian.

Từ ánh sáng lặng thầm của chiếc đèn pin cổ nghéo nơi chiến trường đến búi dù gắn với một lời hẹn ước đoàn viên, cuộc đời người lính đặc công Bùi Xuân Hình được kết nối bởi một mạch chung: Lý tưởng, trách nhiệm và niềm tin. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông được tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý. Đặc biệt, tháng 4-2018, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn