Trận đánh giải phóng Thăng Long năm 1258 (1)
Cuối năm 1257, trong kế hoạch chinh phạt lớn của đế chế Mông Cổ, nhằm khuất phục nhà Tống, chiếm lĩnh toàn bộ nước Trung Hoa, một đạo quân mạnh, gồm gần vạn kỵ binh Mông Cổ thiện chiến và hai vạn binh lính người Thoán Bặc ở Vân Nam tòng chinh, do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, đã tiến hành cuộc xâm lược nước Đại Việt lần thứ nhất, mưu toan vừa chiếm nước ta vừa dùng Đại Việt làm bàn đạp để bất ngờ ngược lên đâm dao vào sau lưng nhà Tống, phối hợp với các đạo quân Mông Cổ khác, đánh bại đất n
Cuối năm 1257, trong kế hoạch chinh phạt lớn của đế chế Mông Cổ, nhằm khuất phục nhà Tống, chiếm lĩnh toàn bộ nước Trung Hoa, một đạo quân mạnh, gồm gần vạn kỵ binh Mông Cổ thiện chiến và hai vạn binh lính người Thoán Bặc ở Vân Nam tòng chinh, do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, đã tiến hành cuộc xâm lược nước Đại Việt lần thứ nhất, mưu toan vừa chiếm nước ta vừa dùng Đại Việt làm bàn đạp để bất ngờ ngược lên đâm dao vào sau lưng nhà Tống, phối hợp với các đạo quân Mông Cổ khác, đánh bại đất nước khổng lồ này.
|
Minh họa: Mạnh Tiến. |
Giặc từ Vân Nam tiến vào nước ta bằng hai đường: Dọc hữu ngạn sông Hồng, qua Quy Hóa (mạn tây Yên Bái ngày nay) và theo sông Chảy, qua Thu Vật (ở phần Yên Bái phía đông). Đến đầu tháng 1-1258 thì đã hội quân được ở Việt Trì. Quân dân Đại Việt, dưới sự chỉ huy của vua Trần Thái Tông, đã đưa toàn bộ lực lượng từ Thăng Long lên đón đánh quân giặc ở Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc), ngày 17-1-1258. Đó là một cuộc trận địa chiến lớn, và lại chọn đúng... sở trường của giặc mà tiến hành. Vì thế, bất lợi thuộc về quân ta. Và vua Trần Thái Tông thì đã định chọn cách... tử chiến ("đánh chết thôi"). May mà có tướng Lê Tần kịp can ngăn: "Nếu bây giờ bệ hạ làm như thế thì chỉ như người dốc hết túi tiền để đánh một tiếng bạc mà thôi". Và định hướng: "Thần nghĩ, hãy nên lánh đi". Lời tham mưu xác đáng này, sau đấy đã được ghi nguyên văn vào chính sử. Vậy là bắt đầu một cuộc "rút lui chiến lược".
Ngày 19-1-1258, giặc đuổi theo đường rút lui của quân ta, tràn vào chiếm Thăng Long.
Một tình hình chiến sự như thế này, chưa từng thấy trong lịch sử trước đấy. Và, cứ như cách biểu hiện lịch sử ở thời trước đấy, thì: Chiếm được kinh thành là chiếm được đất nước, để mất kinh đô là mất nước! Do đấy mà tướng Ngột Lượng Hợp Thai chiếm được Thăng Long rồi, thì lùng sục phá phách vùng hoàng cung chút ít, còn chủ yếu là đóng quân ở khu vực căn cứ Đông Bộ Đầu (tức: Bến Đông, quanh chùa Hòe Nhai ở Dốc Hàng Than, trông ra Bến Nứa (chợ Long Biên hiện nay) của quân Trần bỏ lại, chờ vua quan nhà Trần đến... nộp nước! Nhưng, ở cách nơi giặc đang chờ quãng 60km xuôi theo dòng sông Hồng, vua Trần Thái Tông cùng triều đình lại đang lo việc... đánh đuổi giặc, lấy lại kinh thành! Cũng có những hoang mang đấy. Tỉ như em ruột vua-Thái úy Trần Nhật Hiệu, đứng đầu võ ban triều đình-khi được vua hỏi han kế sách, lại chỉ chấm ngón tay xuống nước, viết vào mạn thuyền hai chữ "Nhập Tống", ý muốn khuyên vua: Hãy chạy trốn sang nước Tống! Nhưng chú vua là Thái sư Trần Thủ Độ thì rất kiên quyết: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng có lo!". Và bà cô ruột Linh Từ Quốc mẫu, cũng là mẹ vợ vua, thì không cần nói, mà làm: Đứng ngay ra cáng đáng việc quân khí, quân nhu, cung cấp hậu cần đủ cho toàn quân vào cuộc chiến mới!
Ngày 24 tháng Chạp năm Đinh Tỵ, dương lịch là ngày 29-1-1258, vua Trần Thái Tông, có thái tử vừa 18 tuổi Trần Hoảng cùng đi, cưỡi lâu thuyền, dẫn đại quân vừa được tổ chức lại, ngược sông Hồng, tấn công lên hướng kinh thành. Đích tiến đánh của quân ta, chính là căn cứ Đông Bộ Đầu. Nơi đây, vào thời Lý-Trần, vừa là một bến cảng lớn của kinh thành, vừa là một căn cứ thủy bộ trọng yếu của triều đình, đồng thời, còn là diễn trường của nhiều lễ hội dân gian và cung đình nữa. Đã rất quen thuộc chiến trường, biết chắc giặc chỉ mới đứng chân ở đây chưa lâu, quân ta đã tổ chức và tiến hành một trận tập kích lớn, rất quyết liệt, đánh vỗ mặt, phá tan quân thù.
Đại bại ở Đông Bộ Đầu, giặc bỏ tuột ngay tòa kinh thành nước Đại Việt, tháo chạy ngược theo đường cũ, về Vân Nam. Khi lại qua miền Quy Hóa, bị thủ lĩnh Hà Bổng bất ngờ đem dân binh miền núi đổ ra chặn đánh, tổn thất nặng nề, giặc chỉ còn cách lo chạy thoát thân. Trận Đông Bộ Đầu ngày 29-1-1258 (một ngày sau Tết ông Công, ông Táo năm Đinh Tỵ) đã thực sự giữ vai trò của một trận quyết chiến chiến lược: Không những giải phóng được kinh đô Thăng Long chỉ bằng một trận đánh, mà còn giải quyết được nhiệm vụ của toàn bộ cuộc kháng chiến chống xâm lược Mông-Nguyên lần thứ nhất.
Đây là lần đầu tiên, quân dân đời Trần đụng độ lớn với thế lực ngoại bang xâm lược. Vì thế, diễn biến chiến sự có vẻ rất nóng hổi. Việc "rút lui chiến lược" sau trận Bình Lệ Nguyên, đặc biệt là việc "bỏ qua" kinh thành cho giặc vào chiếm đóng, có vẻ như là những "xử trí tình huống" linh hoạt, kịp thời, bất ngờ mà quyết định hành động tùy theo tình thế. Chính vì thế mà sự sáng tạo đầu tiên, từ những gì dẫn đến trận Đông Bộ Đầu và từ chính trận đánh này, đã truyền lại những kinh nghiệm quý báu cho những cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai và lần thứ ba ở ngay đời Trần, đến những lần và trận đánh giặc giữ nước về sau. Mặt khác, diễn ra ngay trên đất Kinh Kỳ-Thủ đô của đất nước, trận đánh giải phóng Thăng Long năm 1258 ở Đông Bộ Đầu cũng đồng thời vừa là chiến công lừng lẫy đầy tinh thần tự hào, vừa là bài học rất giá trị cho và trong sự nghiệp gìn giữ, bảo vệ nơi chỗ đầu não quan trọng và thiêng liêng của đất nước.
Ngày 5-2-1258, đúng Mồng Một Tết năm Mậu Ngọ, cuộc thiết đại triều mừng năm mới và mừng trận đại thắng Đông Bộ Đầu vừa diễn ra chưa đầy một tuần trước đấy, trọng thể và tưng bừng được tổ chức ngay tại tòa chính điện Thiên An, giữa Thăng Long mới được giải phóng 6 ngày, đã chứa đựng và truyền đi đầy đủ những ý nghĩa và giá trị như thế.




