Trận đánh trên Cao điểm 547 (p1)
Trong buổi sinh hoạt truyền thống với chủ đề "Ngọn lửa tuổi trẻ – Tiếp bước anh hùng", tôi – một đoàn viên thanh niên thế hệ hôm nay – đã vinh dự được lắng nghe bác Nguyễn Như Cảnh, một cựu chiến binh Quân tình nguyện Việt Nam, người từng là chiến sĩ trinh sát trẻ tuổi thuộc Trung đoàn 1, Sư đoàn 2 năm xưa, kể lại những kỷ niệm máu và hoa trên chiến trường K.
Đôi bàn tay hằn sâu những vết sẹo thời gian, ánh mắt rực sáng niềm tự hào, bác Cảnh đã đưa chúng tôi ngược dòng lịch sử trở về mùa khô năm 1984, sống lại từng phút giây sinh tử tại "tử huyệt" Cao điểm 547. Qua cuốn sổ ghi chép của mình, tôi xin ghi lại câu chuyện kiên cường ấy qua 3 phần:
Phần 1: Lòng chảo nắng cháy và "tử huyệt" Cao điểm 547 qua ký ức người lính trẻ Nguyễn Như Cảnh
Theo lời bác Nguyễn Như Cảnh, dãy núi Đăng Rếch (Dangrek) nằm sát biên giới Campuchia - Thái Lan dựng đứng như một bức tường thành đá khổng lồ. Cao điểm 547 chính là mắt xích phòng thủ kiên cố nhất, được tàn quân Pol Pot ví như pháo đài bất khả xâm phạm ở cánh Đông Bắc. Địch bố trí tại đây hai sư đoàn chủ lực (612 và 616) cùng hệ thống hầm ngầm bê tông cốt thép dày đặc. "Tổ hợp mìn" ở đây khủng khiếp đến mức bên dưới lòng đất vùi chi chít mìn chống bọc thép, mìn chống bộ binh; còn trên cành cây, vách đá treo hàng ngàn quả mìn định hướng, chỉ cần chạm nhẹ vào cành cây khô là bão lửa trút xuống.
Bác Cảnh bồi hồi nhớ lại: “Năm 1984, tôi tròn 20 tuổi, là một đoàn viên trẻ mang khí thế hừng hực. Nhưng điều khiến tôi và đồng đội sợ nhất không phải là đạn pháo của địch, mà là cơn khát giữa mùa khô nhiệt đới.” Lòng chảo đá vôi vào mùa khô nóng rực như một lò luyện thép, nhiệt độ có lúc lên tới 40–42 độ C. Mọi suối ngầm đều khô cạn hoặc bị địch khống chế. Bác Cảnh kể, trong các đợt tiến công năm 1982–1983, vì thiếu nước nghiêm trọng, nhiều chiến sĩ cổ họng cháy khô, đôi môi nứt nẻ chảy máu, phải ngậm từng viên sỏi nhỏ để tiết nước bọt hoặc chắt chiu từng giọt dung dịch truyền để giữ sức bám chiến hào.
Thấy rõ bài toán "sống còn" đó, trong chiến dịch C84 mở màn vào tháng 4 năm 1984, Bộ Tư lệnh đã phát động trận tuyến hậu cần chưa từng có trong lịch sử. Bác Cảnh kể lại với niềm tự hào dâng trào: những đoàn xe chở nước xitéc chuyên dụng cùng xe bọc thép M113 đã kiên cường mở đường, vượt qua hơn 40km rừng rậm bị địch gài mìn và phục kích, đưa từng ca nước mát lạnh đến tận từng hầm ém quân. Ca nước ngọt ngào giữa đại ngàn nắng cháy năm ấy chính là nguồn nhựa sống, tiếp thêm ý chí sắt đá cho những người lính trẻ trước giờ G.



