TRẬN ĐÁNH TRÊN SÔNG
Những dòng sông của đất nước Việt Nam không chỉ mang phù sa bồi đắp ruộng đồng mà còn trở thành chiến hào tự nhiên trong suốt những năm tháng chiến tranh. Từ sông Hồng đỏ nặng phù sa đến dòng Cửu Long mênh mang sóng nước, đâu đâu cũng in dấu chân của quân và dân ta trong những trận đánh quyết liệt với kẻ thù. Trên mặt nước tưởng như hiền hòa ấy đã diễn ra biết bao trận chiến oanh liệt, nơi lòng dũng cảm và trí thông minh của người lính Việt Nam được thể hiện bằng máu, mồ hôi và ý chí quật cường. Mùa hè năm 1968, tại một nhánh sông lớn ở miền Tây Nam Bộ, đơn vị du kích xã Bình An nhận được tin địch sẽ dùng tàu chiến chở quân càn quét vào vùng căn cứ. Dòng sông khi ấy rộng mênh mông, nước chảy xiết sau những ngày mưa lớn. Hai bên bờ là rặng dừa nước um tùm, xen lẫn những bụi tràm rậm rạp. Địch tin rằng với tàu sắt và hỏa lực mạnh, chúng có thể dễ dàng tiến sâu vào căn cứ cách mạng. Đêm trước trận đánh, dưới ánh đèn dầu leo lét trong căn chòi lá ven sông, anh Ba Lực – chỉ huy đội du kích – trải tấm bản đồ nhàu nát ra giữa bàn. “Ngày mai tụi nó sẽ đi theo luồng chính. Ta phải đánh ngay khúc cua Cồn Đá. Ở đó sông hẹp, tàu lớn khó xoay trở.” Mọi người im lặng gật đầu. Ai cũng hiểu trận đánh này vô cùng nguy hiểm. Vũ khí của họ chỉ có vài khẩu súng trường, mấy quả lựu đạn cùng hai quả thủy lôi tự chế. Trong khi đó, địch có tàu bọc thép và đại liên hạng nặng. Suốt đêm ấy, những người lính du kích âm thầm lội nước cắm cọc dưới lòng sông. Họ dùng dây thép nối những quả mìn tự tạo giấu kín dưới lớp bèo tây. Nước sông lạnh buốt nhưng không ai kêu ca nửa lời. Xa xa, tiếng động cơ tàu địch vọng lại như lời đe dọa giữa màn đêm. Rạng sáng hôm sau, sương mù phủ kín mặt sông. Những chiếc xuồng nhỏ của du kích lặng lẽ rút vào bờ lau sậy. Anh Ba Lực cầm ống nhòm nhìn về phía hạ nguồn. Từ xa, ba chiếc tàu chiến của địch đang tiến tới, phía sau là hàng chục ca nô chở lính. Tiếng động cơ gầm rú xé tan sự yên tĩnh. Tên sĩ quan đứng trên boong tàu cầm loa quát lớn: “Việt cộng hãy ra hàng!” Không ai trả lời. Chỉ có tiếng chim nước bay vụt khỏi những bụi cây ven sông. Khi chiếc tàu đầu tiên tiến đến khúc cua Cồn Đá, anh Ba Lực siết chặt tay ra hiệu. Một tiếng nổ long trời vang lên. Cột nước dựng cao hàng chục mét. Chiếc tàu chiến rung chuyển dữ dội rồi nghiêng hẳn sang một bên. Khói đen bốc lên cuồn cuộn. Ngay lập tức, các tay súng du kích từ hai bờ đồng loạt nổ súng. Đạn từ trong lùm cây bắn xối xả xuống đoàn tàu địch. Những tên lính hoảng loạn tìm chỗ ẩn nấp. Tiếng la hét hòa lẫn tiếng súng và tiếng động cơ tạo thành âm thanh hỗn loạn giữa mặt sông. Chiếc tàu thứ hai định quay đầu tháo chạy thì mắc vào bãi cọc ngầm. Anh Tư Hòa, một chiến sĩ trẻ mới mười chín tuổi, ôm bó lựu đạn lao lên chiếc xuồng nhỏ. Dưới làn đạn dày đặc, anh chèo thẳng về phía tàu địch. “Yểm trợ cho Tư!” – tiếng anh Ba Lực vang lên. Các chiến sĩ đồng loạt bắn mạnh hơn để thu hút hỏa lực. Xuồng của Tư Hòa lướt nhanh trên mặt nước đầy khói súng. Khi còn cách tàu địch vài mét, anh đứng bật dậy, giật chốt lựu đạn rồi ném mạnh lên boong tàu. Một loạt tiếng nổ chát chúa vang lên. Tên lính đại liên trên mũi tàu gục xuống. Địch hoảng loạn bắn loạn xạ xuống mặt nước. Chiếc xuồng nhỏ của Tư Hòa trúng đạn vỡ toác nhưng anh vẫn kịp nhảy xuống sông bơi vào bờ an toàn. Sau hơn một giờ giao tranh, đoàn tàu địch buộc phải rút lui. Chiếc tàu đi đầu chìm hẳn xuống lòng sông, nhiều ca nô bị bắn cháy. Mặt nước đen kịt dầu loang và khói thuốc súng. Người dân hai bên bờ sông kéo ra tiếp tế cho bộ đội. Những bà mẹ mang cơm nắm, nước uống đến tận trận địa. Một cụ già tóc bạc nắm chặt tay anh Ba Lực: “Các con giỏi lắm. Dòng sông này vẫn là của dân mình.” Nhưng chiến tranh chưa dừng lại. Năm 1972, trên dòng sông Thạch Hãn ở miền Trung, một trận chiến khác lại diễn ra ác liệt không kém. Đây là tuyến đường huyết mạch để bộ đội vượt sông tiếp viện cho chiến trường Quảng Trị. Địch dùng pháo binh và máy bay đánh phá suốt ngày đêm nhằm cắt đứt con đường tiếp tế ấy. Ban đêm, từng đoàn chiến sĩ lặng lẽ chèo thuyền vượt sông. Mặt nước loang loáng ánh pháo sáng. Chỉ cần một tiếng động mạnh, pháo từ bên kia sẽ dội xuống ngay lập tức. Trong một chuyến vượt sông, tiểu đội của anh Nguyễn Văn Thành chở đầy đạn dược và thuốc men cho chiến trường. Khi ra đến giữa dòng, pháo địch bất ngờ nã tới. Một quả đạn rơi sát mạn thuyền, nước bắn tung trắng xóa. Chiếc thuyền chao đảo dữ dội. “Bình tĩnh! Tiếp tục chèo!” – anh Thành quát lớn. Mọi người nghiến răng tiếp tục vượt dòng nước xiết. Pháo sáng trên trời rọi xuống mặt sông sáng rực như ban ngày. Tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Bỗng một chiến sĩ trẻ trúng mảnh pháo vào vai, máu chảy đầm đìa. Anh vẫn cắn răng giữ mái chèo. “Đừng dừng lại… phải đưa hàng qua cho anh em…” Câu nói ấy khiến cả tiểu đội càng quyết tâm hơn. Họ cúi rạp người chèo thật nhanh trong mưa bom bão đạn. Cuối cùng, chiếc thuyền cũng cập được bờ bên kia an toàn. Nhiều năm sau chiến tranh, những dòng sông ấy lại trở về vẻ yên bình vốn có. Trẻ nhỏ tắm sông, thuyền đánh cá xuôi ngược giữa hoàng hôn đỏ rực. Nhưng dưới lòng sông vẫn còn đó ký ức của những trận đánh hào hùng. Những người lính năm xưa có người đã ngã xuống, có người trở về với mái tóc bạc trắng. Song mỗi khi nhắc đến những trận đánh trên sông, ánh mắt họ vẫn sáng lên niềm tự hào. Bởi chính trên những dòng sông ấy, quân và dân Việt Nam đã chứng minh rằng lòng yêu nước và ý chí chiến đấu có thể chiến thắng mọi vũ khí hiện đại. Những trận đánh trên sông không chỉ là những cuộc giao tranh quân sự, mà còn là biểu tượng cho tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam qua bao thế hệ.



