Khác

Trận đòn oan và mối tình cảm động

“Đã nhiều năm nằm vùng chiến đấu, lăn lộn để sống, bao hỉ, nộ, ái, ố ở đời chẳng làm tôi gợn lòng, nhưng đêm đó tôi đã không kìm được nước mắt, vừa chạy, vừa khóc...

Phú Thọ11/04/2026Trần Thị Ngọc Phượng (Đoàn thanh niên phường Thống Nhất)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Đã nhiều năm nằm vùng chiến đấu, lăn lộn để sống, bao hỉ, nộ, ái, ố ở đời chẳng làm tôi gợn lòng, nhưng đêm đó tôi đã không kìm được nước mắt, vừa chạy, vừa khóc. Thế mới biết tình cảm vợ chồng, cha con sâu nặng đến nhường nào!” - Thượng úy, cựu chiến binh Lê Văn Thân, 83 tuổi, ngụ tại phường 10, quận Gò Vấp (TP Hồ Chí Minh) bắt đầu câu chuyện với chúng tôi như thế!

Ông Thân kể:

- Mấy năm công tác xa nhà, không được gặp vợ con, lại nghe tin đứa con trai đầu lòng bị bệnh không có thuốc điều trị nên đã mất, ruột gan tôi nóng như lửa đốt, đứng ngồi không yên. Xin phép cấp trên tranh thủ về thăm gia đình và xem thực hư thế nào nhưng mãi đến đêm tôi mới dám về nhà. Nào ngờ, vừa tới ngõ tôi đã bị anh em bên nhà vợ chặn lại, chửi mắng thậm tệ, nhất định không cho tôi vào gặp mẹ con cô ấy. Họ còn vác gậy đánh đuổi khiến tôi phải gạt nước mắt chạy khỏi làng. Mãi sau này gặp vợ ở cơ quan tôi mới biết… Sau cái ngày tôi ném lựu đạn tiêu diệt tụi sĩ quan Mỹ trên xe Zeep không thành, chúng truy tìm, lùng sục ráo riết. Tôi phải bí mật rút về chiến khu làm cán bộ đại đội thuộc Ban quân y T4, khu Sài Gòn-Gia Định. Còn vợ tôi phải đưa 2 con về quê ngoại ở Cần Thơ tá túc. Thế nhưng, ở đâu tụi mật thám chỉ điểm cũng không buông tha. Chúng tìm đủ mọi cách hăm dọa, mua chuộc, dụ dỗ chiêu hồi khiến vợ tôi cùng gia đình bên ngoại chẳng lúc nào yên. Đứa con trai đầu lòng của vợ chồng tôi bị bệnh suốt mấy ngày nhưng không mua được thuốc, vì mật thám và tụi lính quản thúc không cho ai đi khỏi ngõ. Nhìn bệnh tình của con mỗi lúc một nặng, vợ tôi như đứt từng khúc ruột. Cô ấy quyết định trốn ra ngoài tìm mua thuốc cho con nhưng mới ra khỏi hẻm đã bị bọn lính bắt giữ. Bố mẹ vợ tôi vừa phải lo cho con, vừa phải vất vả chăm sóc cháu đang ốm trong khi không có thuốc men chữa trị. Thằng bé ngày càng kiệt sức. Đến khi vợ tôi được thả về nhà thì con trai tôi chỉ còn thoi thóp, rồi trút hơi thở cuối cùng trên tay mẹ. Mất con, nỗi đau ập xuống quá bất ngờ khiến vợ tôi suy sụp tinh thần tưởng chừng không gượng dậy nổi. Thế rồi, sau nhiều đêm thao thức, thương cha mẹ già và đứa con thứ hai còn ẵm ngửa, cuối cùng cô ấy phải nuốt nước mắt nói dối gia đình, làng xóm, rằng tôi là kẻ phụ tình, bội bạc đã có vợ bé, chẳng còn liên quan gì tới mẹ con cô ấy nữa để tụi lính bớt quản thúc, kìm kẹp, cản ngăn… Bởi vậy, anh em trong gia đình bên ngoại tưởng thật nên rất căm ghét tôi…

Vợ chồng Thượng úy Lê Văn Thân ngày ở cùng đơn vị. Ảnh chụp lại.

Ông Thân ngừng lời như để kìm nén một nỗi niềm sâu thẳm. Giây lát, giọng ông nhỏ nhẹ:

- Trận đòn đêm ấy cũng thật dễ hiểu, bởi trong mắt họ lúc đó tôi là một kẻ vong ơn bội nghĩa; vì tôi mà gia đình họ, chị em họ phải chịu bao đắng cay, đau khổ.

Nghe chồng kể, bà Đặng Thị Kim Tuyến, năm nay 82 tuổi, nước mắt lưng tròng. Trên gương mặt nhăn nheo của bà như còn đọng mãi nỗi xót xa thuở trước. Giọng bà Tuyến nghèn nghẹn:

- Sau cái ngày con tôi không còn nữa, có lúc tôi đã rất oán hận ông ấy! Vì ông ấy mà tụi ác ôn mới đeo bám, làm khổ mẹ con tôi. Nhưng nghĩ lại tôi thấy thương chồng oan uổng. Mọi nỗi đau là do quân cướp nước gây nên. Vì chúng mà vợ chồng tôi mới phải xa cách, con tôi đứa chết thảm, đứa chào đời chưa thấy mặt cha. Cái đêm ông ấy bí mật về thăm nhà, bị chửi mắng, xua đuổi, dù biết ông ấy buồn tủi lắm nhưng tôi chỉ dám cắn răng chịu đựng, mím môi đến tứa máu để không bật khóc òa trong tủi hờn, nhớ thương, chua xót. Ôm đứa con nhỏ vào lòng, tôi hát ru nó mà như tự an ủi lòng mình cho vơi bớt đau thương: Cha đi đánh giặc ngày dài/ Để cho lòng mẹ nhớ hoài khôn nguôi/ Cuộc đời chín ngược mười xuôi/ Khổ đau qua hết… niềm vui lại về/ Con ơi, giữ trọn lời thề/ Bao giờ hết giặc cha về với con.

Sau cái đêm nghiệt ngã ấy, ông Thân ngậm ngùi trở về đơn vị. 3 năm sau (1964), vào một buổi chiều bình yên cuối mùa thu dịu mát, ông Thân bất ngờ gặp vợ mình ngay tại đơn vị. Nhớ lại khoảnh khắc đó ông Thân chưa hết mừng vui:

- Hôm ấy tôi đang trực đơn vị thì có lệnh gọi về đón khách. Đã rất lâu tôi chẳng có khách nào đến thăm, thỉnh thoảng mới gặp người quen nên cũng chỉ đoán là anh bạn đồng hương nào đó ghé qua. Nào ngờ, vừa về tới nơi tôi ngỡ ngàng nhận ra vợ mình. Niềm vui vỡ òa, mừng mừng tủi tủi, vợ chồng vừa khóc, vừa cười. Suốt đêm vợ tôi kể chuyện nhà, chuyện xóm, chuyện tụi mật thám dụ dỗ chiêu hồi… nghe mà xót lòng, uất ức! Thế rồi sáng hôm sau vợ tôi bảo: “Em đã gửi con lại cho ông bà ngoại chăm sóc để lên đây ở hẳn với anh. Làm việc gì cũng được, miễn sao em được góp sức mình trả mối thù mất con”. Tôi bần thần chưa biết tính sao. Đến trưa, tôi báo cáo nguyện vọng với cấp trên và được chấp thuận. Từ đấy, vợ tôi trở thành “chị nuôi” của đơn vị.

Ông Thân-bà Tuyến hôm nay.

Nói tới đây ông Thân mỉm cười quay sang nhìn vợ với ánh mắt thân thương, trìu mến. Có lẽ cũng vì ánh mắt ấy mà ngày xưa bà đã từ bỏ tất cả để cùng ông nên duyên chồng vợ. Bà Tuyến vốn xinh đẹp, con nhà giàu có ở Cần Thơ. Cha của bà muốn con gái lấy chồng môn đăng hộ đối nên hứa gả cho con trai một gia đình địa chủ. Không chịu lấy người mình không yêu, bà Tuyến bỏ nhà lên Sài Gòn ở đợ cho một chủ quán ăn. Tại đây, bà đã gặp ông Thân, quê gốc Trà Vinh, khi ấy đang là biệt động nằm vùng, đóng vai thợ điện, thợ hàn nghèo khó thường tới quán ăn nhận rửa bát thuê buổi tối. Thấy chàng trai nhỏ người, đen đúa, tứ cố vô thân nhưng thật thà chịu khó, bà chủ quán liền mai mối cô Tuyến cho anh. Sửng sốt, bất ngờ, anh cuống quýt nhận lời, vừa mừng vừa lo. Đám cưới được bà chủ đứng ra lo chu toàn, tươm tất. Ngày sánh vai bên người đẹp trong mơ, chú rể kiễng chân, nghiêng người, khe khẽ đặt tay lên vai vợ để chụp ảnh. Bất chợt cô dâu rùng mình làm tay anh rớt thõng. Mọi người dự cưới cười ồ lên khiến chú rể đỏ bừng mặt… Mới đó mà đã gần sáu chục năm họ sánh bước trong đời. Bà Tuyến bộc bạch:

- Ngày lên chiến khu gặp lại ông ấy cứ tưởng vợ chồng được ở mãi bên nhau, nào ngờ được vài năm lại bặt vô âm tín.

- Cháu nghe nói ông bà cùng bị thương và cùng bị bắt trong một trận giao tranh với địch? - Tôi hỏi. Ông Thân gật đầu:

- Năm 1970, tình hình chiến sự căng thẳng, bà con trong vùng sơ tán hết. Đơn vị tôi đóng quân độc lập cách xa căn cứ nên thiếu gạo, thiếu muối trầm trọng. Bọn địch như đoán biết được tình hình nhưng không dám đưa quân vào rừng càn quét nên tăng cường loa truyền thanh gọi hàng. Tôi là bí thư chi bộ phụ trách phòng dược C6 của Ban Quân y T4 nên chúng kêu đích danh: “Tư Thân, hãy cùng anh em ra hàng để được hưởng sự khoan hồng của chính phủ quốc gia, nếu ngoan cố các anh sẽ không còn đường thoát…”. Nghe riết cũng có người dao động tinh thần, nhiều anh em trong đơn vị đã xì xào, lo lắng. Đói ăn, đói muối, bụng cồn cào, mắt mờ dần, khổ lắm! Nghe anh em than: “Anh Tư ơi, tụi em thèm cơm quá!”, tôi cũng thấy nao lòng. Tối đó, tôi quyết định cùng 3 đồng chí nữa bí mật ra ấp chiến lược xin gạo và muối về cứu đói. Dù biết rất nguy hiểm nhưng vợ tôi vẫn nằng nặc xin theo. Cô ấy cương quyết: “Dẫu phải hy sinh em cũng quyết hy sinh cùng anh và đồng đội”. Ngay trong đêm chúng tôi xuất phát. Đi được chừng nửa đường thì lọt vào ổ phục kích của địch, 3 đồng chí hy sinh, vợ chồng tôi cũng bị thương và bị địch bắt. Chúng đưa tôi về trại giam Biên Hòa, Phú Quốc; còn vợ tôi bị đưa ra tận nhà lao Quy Nhơn. Vậy là vợ chồng tôi lại chia ly từ đó…

Sau Hiệp định Pa-ri, vợ chồng ông Thân được trả tự do nhưng mãi đến ngày đất nước thống nhất họ mới tìm được nhau. Trở về đơn vị cũ công tác, ông được phân công làm Bệnh xá phó C5 thuộc Ban Quân y, phiên quân hàm Thượng úy, sau chuyển về Quân khu 7. Năm 1983 ông bà cùng nghỉ hưu về ở với cô con gái út tại TP Hồ Chí Minh. Mấy chục năm qua, ông bà luôn sống chan hòa, nhân ái, vui với những việc làm thiện tâm. Điều đặc biệt là, dù ở đâu, làm gì bà con khu phố cũng đều thấy vợ chồng ông luôn quấn quýt bên nhau và động viên mọi người hăng say làm việc tốt. Ngay cả chuyện hiến xác cho y học sau khi qua đời vợ chồng ông cũng cùng nhau tiên phong đăng ký từ 16 năm trước, khi mà cả nước ta mới chỉ có hơn chục người tự nguyện. Chính việc làm ấy của ông bà đã làm thay đổi quan niệm của nhiều người về hiến xác cho y học. “Vợ chồng sống để yêu thương, chết vẫn cùng nhau có ích cho xã hội. Đấy là điều quý nhất!”. Ông Thân cười chia sẻ với chúng tôi như thế.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn