TRẬN GIỮ CẦU SÔNG VỆ NĂM 1969 – LỜI KỂ CỦA NGƯỜI CHIẾN SĨ DU KÍCH
Trong ký ức của những người từng sống qua giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cầu Sông Vệ (Quảng Ngãi) luôn được nhắc đến như một điểm chốt chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí và thông tin từ vùng căn cứ Ba Tơ xuống đồng bằng. Ông Nguyễn Tấn Lực – nguyên du kích xã Đức Phổ – là người trực tiếp tham gia trận giữ cầu nổi tiếng đêm 19/9/1969, trận đánh được xem là một trong những bước quan trọng góp phần giữ vững tuyến giao liên của tỉn
Nhân chứng: Ông Nguyễn Tấn Lực
Năm sinh: 1950
Quê quán: Đức Phổ, Quảng Ngãi
Trong ký ức của những người từng sống qua giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cầu Sông Vệ (Quảng Ngãi) luôn được nhắc đến như một điểm chốt chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là tuyến vận chuyển lương thực, vũ khí và thông tin từ vùng căn cứ Ba Tơ xuống đồng bằng. Ông Nguyễn Tấn Lực – nguyên du kích xã Đức Phổ – là người trực tiếp tham gia trận giữ cầu nổi tiếng đêm 19/9/1969, trận đánh được xem là một trong những bước quan trọng góp phần giữ vững tuyến giao liên của tỉnh Quảng Ngãi.
Ông kể rằng cuối thập niên 1960, chiến sự tại khu vực Đức Phổ hết sức căng thẳng. Quân Mỹ – ngụy triển khai nhiều cuộc càn quét lớn nhằm cô lập lực lượng cách mạng tại miền Trung, trong đó mục tiêu ưu tiên là đánh sập các cây cầu trọng yếu. Cầu Sông Vệ bị đặt dưới sự giám sát đặc biệt. Mỗi đêm, lực lượng du kích địa phương phải thay phiên nhau canh gác, giữ bí mật, rà soát lối tiếp cận. Điều kiện trang bị vô cùng thiếu thốn: vũ khí chủ yếu là súng trường cổ, mìn tự tạo và lựu đạn do chính dân quân trong xã sản xuất.
Theo lời ông Lực, đêm 19/9/1969, địch tiến hành một trận tập kích bất ngờ bằng pháo sáng và súng cối nhằm tiêu diệt lực lượng bảo vệ và đánh sập cầu. Tại thời điểm đó, tổ công tác của ông chỉ có 17 người, trong khi phía địch đông gấp bốn lần, lại có hỏa lực mạnh. Trận đánh kéo dài gần ba giờ đồng hồ. Điểm bước ngoặt của trận đánh diễn ra khi lực lượng ta quyết định sử dụng mìn định hướng để chặn hướng tấn công chính của đối phương.
Nhân chứng còn nhớ rõ hình ảnh chiến sĩ Trần Phú Thịnh – người quê Mộ Đức – xung phong mang mìn ra đặt giữa tuyến lửa. Anh Thịnh biết rõ cơ hội sống sót gần như bằng không, nhưng vẫn kiên quyết thực hiện nhiệm vụ để giữ cầu bằng mọi giá. Khi mìn nổ, đội hình địch buộc phải dừng tiến công, tạo điều kiện cho quân ta giữ vững trận địa.
Sau chiến tranh, bà Mận trở về cuộc sống nông dân. Mãi đến năm 2012, trong dịp kỷ niệm 40 năm giải phóng Quảng Trị, tên bà mới được nhắc lại trong danh sách những dân công hỏa tuyến có cống hiến đặc biệt. Theo bà, điều quan trọng nhất không phải là huân chương mà là thế hệ trẻ hiểu được sự khốc liệt của chiến tranh và giá trị của hòa bình.



