Trận “hỏa công” Tân Kiều – dấu ấn mưu trí và lòng dũng cảm
Đoạn văn tái hiện giai đoạn chiến đấu ác liệt tại mặt trận Nha Trang – Ninh Hòa, đặc biệt là bước trưởng thành của lực lượng địa phương sau khi mặt trận vỡ. Nhân vật “tôi” cùng đội Danh dự đã vượt qua khó khăn, bằng mưu trí sáng tạo tổ chức trận đánh “hỏa công” tiêu diệt đồn Tân Kiều, phá thế kìm kẹp của địch. Qua đó làm nổi bật tinh thần quả cảm, sự gắn bó với nhân dân và nghệ thuật chiến tranh du kích linh hoạt, hiệu quả.
Nha Trang sống trong không khí sục sôi căm thù và trừng phạt quân cướp nước ngay từ những ngày đầu, sau khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng Chín năm 1945. Vì Nha Trang là một trong những mục tiêu quan trọng mà bộ chỉ huy Pháp đặt kế hoạch đánh chiếm sớm để làm bàn đạp mở rộng tiến công ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nhưng chúng đã vấp phải sự đánh trả mãnh liệt của quân và dân Khánh Hòa, của lực lượng bộ đội Nam tiến vào chi viện cho mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa mỗi ngày một đông. Những ngày cuối năm 1945 đầu năm 1946, đi đến đâu chúng tôi cũng bắt gặp các đơn vị Nam tiến thuộc các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Định, Hà Nội, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc - Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang). Riêng khu vực Nha Trang, Ba Ngòi có bốn tiểu đoàn, còn ba tiểu đoàn khác đứng chân ở thị trấn Ninh Hòa làm lực lượng dự bị.
Đêm 19 tháng 10 năm 1945, Pháp đổ bộ lên đảo Hòn Cau, ven biển Nha Trang. Cùng lúc, quân Pháp trong thị xã đánh chiếm một số nơi. Nhưng chúng đã bị các lực lượng vũ trang của ta đánh trả và siết chặt vòng vây xung quanh những khu vực địch vừa chiếm đóng như nhà ga Nha Trang, nhà máy điện, viện Pa- xtơ. Địch nhiều lần tìm cách phá vòng vây và đổ quân từ biển vào đều bị ta chặn đánh.
Mãi gần ba tháng sau, tức là cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai năm 1946, Pháp huy động một lực lượng khá lớn thủy, lục, không quân mở cuộc hành quân “Gô” (Gaur) do tướng bốn sao Lơ-cléc trực tiếp chỉ huy chia thành hai cánh lớn:
Cánh thứ nhất xuất phát từ Biên Hòa theo đường 20 đánh Di Linh, Đà Lạt, Phan Thiết, Phan Rang, tiến ra Nha Trang.
Cánh thứ hai, từ Buôn Ma Thuột, ngày 25 tháng 1 năm 1946, theo đường 21 đánh xuống. Ngày 27 tháng 1, địch chiếm Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa, chúng phối họp với cánh quân ở Phan Rang ra đánh chiếm hoàn toàn thị xã Nha Trang...
Mặt trận Ninh Hòa vỡ!
Đối với tôi đây là một cột mốc đánh dấu khúc quanh trong cuộc đời chiến đấu của mình. Phần lớn lực lượng vũ trang ta phải tạm thời rút ra Đông Bồ, Tuy Hòa, Sông cầu. Một bộ phận nhỏ ở lại Tân Lâm, Trần Tri, Đại Điền. Ta lập tuyến chặn địch ở đèo Cả. Đơn vị Nam tiến của anh Xuân cũng được lệnh rút ra Phú Yên để cùng các đơn vị Nam tiến khác củng cố xây dựng thành những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ tư lệnh Liên khu V. Số anh em chúng tôi thì trên tuyên bố: ai ở địa phương nào về địa phương đó chiến đấu.
Thế là từ đây tôi phải xa đơn vị Nam tiến! Tình cảm tôi lúc này buồn vui xen lẫn. Vui vì được ở lại chiến đấu trên mảnh đất quê hương thân thiết và rất tự hào. Trong cuộc chiến đấu không cân xứng lúc đó mà Ninh Hòa vẫn cản giữ, làm chậm bước tiến của kẻ thù, ghi vào trang sử chiến công đầu của quê hương: ngày 27 tháng 9 năm 1945, quân Nhật tập kích một đơn vị Nam tiến vừa mới tới Ninh Hòa, bị quân ta đánh trả mãnh liệt, phải lui về đồn. Cùng ngày, 18 xe chở quân Nhật từ Tây Nguyên theo đường 21 về Ninh Hòa, bị lực lượng ta phục kích, bắt sống toàn bộ. Ninh Hòa bị đủ các loại kẻ thù gây rối, bị chúng bao vây tứ phía, nhưng các lực lượng vũ trang ta vẫn bám và tiến công địch gần năm tháng ròng. Niềm vui pha chút tự hào ấy không làm vợi nỗi buồn trong tôi.
Buồn vì phải xa đơn vị mà tôi vừa gắn bó; buồn vì phải xa những người đồng đội tuy thời gian sống chung còn rất ngắn mà đã hiểu nhau và thương nhau nhiều. Không một chuyện riêng tư, một nỗi buồn vui nào lại không kể cho nhau nghe. Và cứ sau những giờ phút tâm sự thật cởi mở ấy, tình cảm chúng tôi lại chan hòa và gắn quyện.
Những ngày sống chung với các anh, tôi đã hiểu ra được nhiều điều, đã thấy được đất nước ta qua các anh kể về quê hương mình: Hải Phòng, Thanh Hóa, Vinh và đặc biệt là Hà Nội... Từ những nơi xa xôi đó, các anh không quản gian lao nguy hiểm vào đây chung sức chung lòng với nhân dân quê tôi đánh giặc, đã có anh yên nghỉ vĩnh viễn nơi Bắc Khánh1 này!
Hôm tạm biệt, tôi không sao nén nổi xúc động, đã bật thành tiếng khóc và năn nỉ xin được đi theo. Không ai gàn tôi khóc mà chỉ có tiếng nói ân cần, cảm thông, động viên tôi ở lại vì nhiệm vụ.
Mãi sau này, có rất nhiều lần chia tay tạm biệt nhưng tôi vẫn ý thức đầy đủ và ro nét trong tâm khảm mình về lần chia tay năm ấy, được xem như là một trong những kỷ niệm sâu sắc bởi nó mang hơi nóng của tình đồng đội, nghĩa Bắc - Nam mà lần đầu tiên tôi hiểu biết được, nó tiếp tục được bồi đắp ngày càng sâu đậm trong suốt cuộc đời chiến đấu của tôi sau này.
Ở lại Ninh Hòa, tôi được phân về đội Danh dự của tỉnh. Đội có khoảng năm sáu chục anh em người cùng quê do anh Nguyễn Sây làm đội trưởng. Năm 1947, sau trận tập kích Hố Vòng, anh Sây hy sinh, tôi được trên bổ nhiệm thay anh điều khiển đội Danh dự hoạt động ở vùng Bắc Khánh, nhưng địa bàn chủ yếu vẫn là khu vực Hòa Nghĩa quê tôi.
Tình hình lúc này có thể nói là tạm thời đen tối. Các đơn vị Nam tiến rút ra Phú Yên, lực lượng quân sự còn lại chỉ có đội Danh dự chúng tôi. Địch sau khi chiếm được Ninh Hòa, chúng liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, lập tề, đóng thêm đồn bót mở rộng vùng kiểm soát ra các thôn xã ngoại vi. Bọn cường hào ngóc đầu dậy can tâm một lần nữa làm tay sai cho chúng, dẫn lính đi lùng lục các xóm, vây bắt cán bộ và những quần chúng tích cực của cách mạng. Đêm đêm chúng phục đón lõng các ngả đường nghi ta đi lại hoạt động.
Trận đánh đầu tiên của đội Danh dự là trận chặn địch trên đường 21, ở khu đèo Phượng Hoàng, vào một ngày giữa tháng 2 năm 1947. Địch thời gian này rất chủ quan, chúng cho rằng lực lượng ta đã kiệt sức phải rút ra tận Phú Yên. Đường 21, đường 1 từ Ninh Hòa ra Vạn Ninh đến Đại Lãnh, chân đèo Cả đã mọc lên hàng loạt đồn bót, tháp canh bảo vệ, hàng ngày địch đi lại trên hai trục đường này với thái độ rất nghênh ngang, ngạo mạn. Tỉnh chủ trương sử dụng đội Danh dự phối hợp với một đơn vị khác đánh đoàn xe địch cứ đều kỳ từ Nha Trang qua Ninh Hòa lên Buôn Ma Thuột.
Nhận được lệnh, từ vùng sâu hậu địch, đội Danh dự khẩn trương lên đường băng qua hệ thống đồn bót địch tới vị trí trước giờ quy định. Giáp trận lần đầu, vừa háo hức vừa bỡ ngỡ. Nhưng khi nghe tiếng dộng cơ xe địch vọng về, gần tới trận địa phục kích, thì chúng tôi lại thấy mình hồi hộp thật sự. Tiếng động cơ càng to đần, nghe rõ cả tiếng rú ga, nhưng tôi vẫn tập trung tư tưởng nghe tiếng súng lệnh đến căng óc... Khoảng hai phứt sau, ba phát súng trường bắn liên tục từ phía sau đội hình - đó chính là tiếng súng lệnh. Đúng rồi! Tôi vui sướng tự nói với mình như vậy rồi hô toàn đội xung phong, thẳng hướng đoàn xe địch đang bị ùn tắc phía trước mặt do ta làm tốt khâu chặn đầu, khóa đuôi. Tôi trực tiếp chỉ huy tổ hỏa lực với năm tay súng trường bắn tập trung kiềm chế địch, để số anh em làm nhiệm vụ đốt phá xe thực hiện diệt từng mục tiêu được giao. Ngọn lửa lan nhanh, đám khói đen khét bốc cao làm mờ đục cả khu đèo. Trận đánh kết thúc nhanh gọn, 21 xe địch bị đốt và phá hủy, ta thu được nhiều vũ khí, quân trang quân dụng.
Sau trận thắng giòn giã, đội Danh dự chúng tôi lại được lệnh xuống đồng bằng hoạt động ngay giữa lòng địch.
Ngày ấy tuổi trẻ chúng tôi rất hăng hái, lạc quan, không sợ gian khổ hy sinh, lúc nào cũng mong có cơ hội được đánh giặc. Nghĩ như thế nhưng chúng tôi lúc đó quả thật lúng túng: Đánh địch ở đâu, bằng cách nào để thắng nó, trong khi chúng tôi hầu như chỉ tay không mà địch thì có đầy đủ vũ khí, lại đóng trong các đồn bót được bố phòng cẩn mật, có hàng rào nhiều lớp bao quanh. Đúng lúc đó, chúng tôi nhận được lệnh: đội Danh dự chuẩn bị gấp mọi mặt để đánh đồn Tân Kiều.
Tân Kiều nguyên là ngôi đình làng nằm cách nhà tôi một vạt mộng, trên một vuông đất cao hơn mặt ruộng xung quanh khoảng năm, bảy mươi phân. Địch đã biến ngôi đình tôn kính này thành một đồn binh với đủ thứ xú uế, gây nên sự căm phẫn trong nhân dân. Nền đình cao, địch từ đó dễ dàng khống chế kiểm soát một khu vực rộng xung quanh. Quanh đồng toàn là ruộng nước, “Việt Minh” càng khó tiếp cận. Đóng chốt ở đây, địch có thêm mắt xích bảo vệ vành ngoài cho Ninh Hòa từ hướng đông, dễ dàng tổ chức càn quét, lùng sục hàng ngày để bắt cán bộ, phá sơ sở ta, chặn không cho nhân dân liên lạc với căn cứ Hòn Hèo và cũng là để bao vây cô lập căn cứ này với nhân dân.
Phải nhổ bằng được đồn Tân Kiều, mới phá được ách kìm kẹp, phá thế địch bao vây Hòn Hèo để lực lượng vũ trang ta ở căn cứ đó có điều kiện bung ra hoạt động sâu và xa hơn, nối lại dây liên hệ sinh tử giữa lực lượng cách mạng và nhân dân; sau hết nếu ta đánh thắng địch ở Tân Kiều là hạ uy thế chúng, cổ vũ mạnh mẽ nhân dân nổi dậy đấu tranh, thúc đẩy phong trào toàn dân đánh giặc.
Nghe cấp trên phổ biến ý định trận đánh đúng với ý nghĩ nung nấu của mình, càng thôi thúc tinh thần quyết tâm chiến đấu của tất cả cán bộ, chiến sĩ trong đội Danh dự. Chúng tôi ai nấy đều rất hăng hái lên đường, ngay sau khi được cấp trên đến giao nhiệm vụ. Như vậy là tư tưởng thông suốt, tinh thần sẵn sàng, không cần phải bận tâm. Vấn đề là phải tìm cách đánh sao thắng ngon và êm.
Súng chọi với súng, tất nhiên là ta không có điều kiện rồi. Vậy ta phải dùng mưu thôi. Nhưng muốn có mưu thì phải hiểu rõ địch ăn ở ra sao, đường ngang ngõ dọc của nó thế nào, mới định được cách đánh phù họp. Tôi nêu suy nghĩ trên được anh em trong đội Danh dự tán thánh - việc đầu tiên là phải đi trinh sát nắm địch. Trao đổi xong, tôi dẫn một tổ đi nghiên cứu. Địa thế đồn Tân Kiều tôi thuộc như lòng bàn tay, chỉ không biết từ khi địch về dựng bốt đến nay thì có gì khác.
Hai đêm chúng tôi trườn trên ruộng lúa để tiếp cận đồn. Đêm trước thấy động địch bắn ra rất dữ, cộng thêm pháo sáng từ đồn địch ở đèo Bánh ít bắn lên, buộc chúng tôi phải rút. Cả ngay hôm sau chúng tôi họp nhau lại rút kinh nghiệm, sở dĩ bò trườn trên ruộng nước phát ra tiếng động là vì vướng vào quần áo. Đêm sau chúng tôi quy định chỉ mặc quần đùi áo lót và vào gần đồn phải trát bùn ngụy trang.
Kết quả không ngờ! Đêm ấy chúng tôi bò sát vào đồn địch, lần đếm từng hàng rào, xác định độ chắc chắn của các hàng cọc trụ. Kết hợp với nguồn tin của cơ sở báo ra, chúng tôi có được một tình hình khá chính xác về đồn Tân Kiều: ở đây có một trung đội lính bảo an, trong đó có nhiều tên ác ôn. Quanh đồn có hai hàng rào tre, giữa hai hàng rào là chông sắt. Rào ken dày bắt chéo nhau hình mắt cáo, trên đầu các cọc vót nhọn, khó chui qua và cũng khó nhổ vì chúng cắm rất sâu, có gài lựu đạn.
Với trang bị và kỹ thuật như hiện nay thì tình hình bố phòng của cái đồn này có nghĩa lý gì. Nhưng với chúng tôi hồi đó, lần đầu đánh đồn giặc thì cả là một việc lớn, quá sức, đòi hỏi phải bàn bạc, suy tính dữ lắm. Dĩ nhiên muốn diệt đồn thì phải phá rào rồi. Bàn tới, bàn lui chúng tôi cũng nghĩ ra được cách làm con cúi (như néo đập lúa ở ngoài Bắc) cặp ôm vào cột dùng lực tay tì vào hai càng của cúi mà nhổ. Khi đã phá được rào, sắp vô đồn thì dùng xăng tẩm vào rơm, đốt ném vào các nhà ở của lính đang nằm ngủ hình thành vòng lửa quây tròn để diệt chúng; thằng nào chạy thì dùng súng bắn hoặc giáo mác xỉa.
Rơm thì vận động nhân dân thu gom. Còn xăng lấy đâu? Thật khó! Chúng tôi tìm cơ sở tận trong thị trấn Ninh Hòa vận động họ giúp đỡ. Củng phải mất vài ngày sau mới có đủ lượng xăng cần thiết cho cách đánh “hỏa công” hiện đại của chúng tôi.
Công tác chuẩn bị được tiến hành khẩn trương và bí mật. Theo quy định mỗi ngưởi phải có hai bó rơm đóng chặt như cái bánh chưng to. Xăng đóng vào chai mang theo, đến gần vị trí triển khai tiềm nhập mới tẩm. Để biết được sức mạnh của loại vũ khí “hỏa công” này, đêm trước đi đánh, chúng tôi cho thực tập tẩm xăng và thực hành đốt, phóng. Rơm khô bó chật, xăng mới tẩm, chạm lửa là cháy bùng, ngọn lửa bốc cao, bén nhanh. Cuộc thử nghiệm thành công gây thêm lòng tin và tinh thần quyết chiến. Ai cũng mong thời gian trôi nhanh để đến mai được thực hiện.
Kế hoạch như vậy là hoàn hảo, không còn gì phải bàn.
Một ngày cuối tháng 7 năm 1947, trận “hỏa công” được tiến hành. Chỉ huy chung trận đánh là anh Sây. Năm mươi chiến sĩ của đội Danh dự với hơn mười khẩu súng trường và súng kíp, một số lựu đạn, còn lại là gậy gộc, giáo mác chia thành hai tổ, theo hai hướng đánh vào. Hướng Hòn Hèo vào, địch đề phòng cẩn mật, chúng tôi xác định là hướng phụ, làm nhiệm vụ nghi binh và đón lõng số địch trốn chạy; hướng tây địch cho ta là khó đánh, nên địch chủ quan, bố phòng không cẩn mật được xác định là hướng chủ yếu. Hướng này do tôi phụ trách.
Đúng giờ quy định, hai tổ theo hai hướng được phân công vào vị trí triển khai chiến đấu. Trăng non đầu tuần đã lặn, trời tối xẩm, xóm làng chìm trong đêm yên tĩnh, xa xa có tiếng chó sủa vu vơ vọng lại.
Tất cả đều diễn ra đúng như kế hoạch. Kỹ thuật tiềm nhập được thục luyện trước đó mấy ngày tỏ ra có hiệu nghiệm. Đồn địch vẫn không hay biết gì khi chúng tôi vượt qua ruộng nước tiến sát đến chân rào. Chúng vừa đổi gác, tên lính mới thay phiên tỏ ra còn tỉnh táo tay lăm lăm súng đi đi lại lại.
Chúng tôi nằm yên, kìm chế cả hơi thở mạnh. Đêm về khuya, gió từ biển thổi vào gây lạnh khó chịu. Tôi bỗng rùng mình và như có vật gì đang bò nơi cổ họng, muốn ho. Thật là căng thẳng! Chỉ một tiếng ho dù nhỏ phát ra lúc này là hỏng việc. Tôi có im nhịn nuốt nước miếng liên tục, cổ bớt khô và cơn ho qua đi. Thật là hú vía!
Các tổ lặng lẽ dùng con cúi nhổ rào, dọn cửa mở...
Theo đúng kế hoạch, tôi tháo chốt quả lựu đạn ném vào hướng tên lính gác đang đứng. Một tiếng nổ đanh, là hiệu lệnh của trận tiến công đêm nay.
Các bó rơm tẩm xăng biến thành những quả cầu lửa bay vào đồn địch. Ngọn lửa bốc cao, lan nhanh thiêu đốt các nhà lính đang ngủ. Sân đồn sáng rực, nhìn rõ những tên lính hoảng loạn từ nhà chạy ra, hoang mang không biết sự tình ra sao từ đâu tới. Các chiến sĩ ta bắn hạ từng tên và bồi tiếp những trái lựu đạn vào những toán lính địch đang nhốn nháo.
Đồn địch cháy, ngọn lửa lan to, bốc cao sáng rực cả một góc trời. Đại bộ phận lính địch bị tiêu diệt và bị bắt sống.
Trận đầu thắng giòn giã, chúng tôi càng thêm tin vào sức mình, thanh thế đội Danh dự càng lan nhanh trong nhân dân, vào cả các đồn bót địch sâu tận trong Ninh Hòa, Nha Trang, ra cả Vạn Ninh, Đại Lãnh, v.v... gây thành làn sóng hoang mang dây chuyền trong hàng ngũ chúng: Chuyện Việt Minh có phép “tàng hình” và thuật “hỏa công” được binh lính thêu dệt với các tình tiết lý kỳ, khiến chúng càng bối rối, hoang mang, phải dè chừng càn quét, tàn phá tài sản của nhân dân quanh vùng.
Tân Kiều bị san bằng, ta phá được thế bao vây của địch, đường dây liên lạc, tiếp tê giữa nhân dân với vùng căn cứ kháng chiến Hòn Hèo được nối lại, ta có điều kiện phát triển cơ sở, hình thành nhiều căn cứ lõm liên hoàn, tạo thuận lợi cho đội Danh dự hoạt động đánh địch, xây dựng cơ sở, mở rộng địa bàn.



