Trần Hưng Đạo
Tìm kiếm Bảng chọn thành viên Trần Hưng Đạo chính trị gia, nhà quân sự Đại Việt thời Trần (1228–1300) Ngôn ngữ Theo dõi Sửa đổi Đối với các định nghĩa khác, xem Trần Hưng Đạo (định hướng) và Trần Quốc Tuấn (định hướng). Bài này viết về vị thân vương nhà Trần Việt Nam. Đối với Hưng Đạo quận vương nhà Đường, cháu nội Đường Túc Tông, xem Lý Do (nhà Đường). Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道, tên thật là Trần Quốc Tuấn (陳國峻), 1228? – 5 tháng 10 năm 1300) tước hiệu là Hưng Đạo đại vương (興道大王), là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời kỳ nhà Trần. Trần Hưng Đạo 陳興道 Tôn thất hoàng gia Đại Việt Tượng đồng Trần Hưng Đạo tại Đền Kiếp Bạc Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân Thông tin chung Sinh 1228? [Tức Mặc, Thiên Trường]], Đại Việt (nay thuộc Phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình Mất 5 tháng 10 năm 1300 Vạn Kiếp, Đại Việt (nay là Chí Linh, Hải Phòng, Việt Nam) An táng Vườn An Lạc Vợ Nguyên Từ quốc mẫu Hậu duệ Hậu duệ Xem mục Gia quyến Tên thật Trần Quốc Tuấn Thụy hiệu Nhân Vũ (仁武) Tước hiệu Hưng Đạo đại vương (興道大王) Triều đại Nhà Trần Thân phụ Trần Liễu Thân mẫu Thiện Đạo quốc mẫu Sau khi qua đời, dân gian Việt Nam suy tôn ông thành Đức Thánh Trần (德聖陳), hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế (九天武帝). Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan ba cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1258, 1285 và năm 1287. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[1] Là con của tôn thất An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng

Tìm kiếm
Bảng chọn thành viên
Trần Hưng Đạo
chính trị gia, nhà quân sự Đại Việt thời Trần (1228–1300)
Ngôn ngữ
Theo dõi
Sửa đổi
Đối với các định nghĩa khác, xem Trần Hưng Đạo (định hướng) và Trần Quốc Tuấn (định hướng).
Bài này viết về vị thân vương nhà Trần Việt Nam. Đối với Hưng Đạo quận vương nhà Đường, cháu nội Đường Túc Tông, xem Lý Do (nhà Đường).
Trần Hưng Đạo (chữ Hán: 陳興道, tên thật là Trần Quốc Tuấn (陳國峻), 1228? – 5 tháng 10 năm 1300) tước hiệu là Hưng Đạo đại vương (興道大王), là một nhà chính trị, nhà quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời kỳ nhà Trần.
Trần Hưng Đạo
陳興道
Tôn thất hoàng gia Đại Việt
Tượng đồng Trần Hưng Đạo tại Đền Kiếp Bạc
Quốc công tiết chế thống lĩnh chư quân
Thông tin chung
Sinh
1228?
[Tức Mặc, Thiên Trường]], Đại Việt (nay thuộc Phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình
Mất
5 tháng 10 năm 1300
Vạn Kiếp, Đại Việt (nay là Chí Linh, Hải Phòng, Việt Nam)
An táng
Vườn An Lạc
Vợ
Nguyên Từ quốc mẫu
Hậu duệ
Hậu duệ
Xem mục Gia quyến
Tên thật
Trần Quốc Tuấn
Thụy hiệu
Nhân Vũ
(仁武)
Tước hiệu
Hưng Đạo đại vương
(興道大王)
Triều đại
Nhà Trần
Thân phụ
Trần Liễu
Thân mẫu
Thiện Đạo quốc mẫu
Sau khi qua đời, dân gian Việt Nam suy tôn ông thành Đức Thánh Trần (德聖陳), hay còn gọi là Cửu Thiên Vũ Đế (九天武帝). Ông được biết đến trong lịch sử Việt Nam với việc chỉ huy quân đội đánh tan ba cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông năm 1258, 1285 và năm 1287. Phần lớn tài liệu nghiên cứu lịch sử và cả dân gian thời sau thường dùng tên gọi vắn tắt là "Trần Hưng Đạo" thay cho cách gọi đầy đủ là "Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn", vốn bao gồm tước hiệu được sắc phong cho ông. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[1]
Là con của tôn thất An Sinh Vương Trần Liễu và là cháu nội của Trần Thái Tổ, Trần Hưng Đạo có mối quan hệ mật thiết với hoàng tộc họ Trần và vua Trần Nhân Tông gọi ông bằng bác. Năm 1257, ông được vua Trần Thái Tông phong làm đại tướng chỉ huy các lực lượng ở biên giới đánh quân Mông Cổ xâm lược. Sau đó, ông lui về thái ấp ở Vạn Kiếp. Đến tháng 10 âm lịch năm 1283, nhà Nguyên (sau khi Mông Cổ thống nhất Trung Hoa) đe dọa đánh Đại Việt lần hai, Hưng Đạo vương được Thượng hoàng Trần Thánh Tông, và vua Trần Nhân Tông (lần lượt là em họ và cháu họ ông) phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội cả nước. Trên cương vị này, năm 1285, ông lãnh đạo quân sĩ chặn đứng đội quân xâm lược do hoàng tử thứ chín Thoát Hoan. Sau những thất bại ban đầu, quân dân Việt dưới sự lãnh đạo của hai vua Trần, Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải và Hưng Đạo vương phản công mạnh mẽ, phá tan quân Nguyên trong các trận Hàm Tử, Chương Dương, Trường Yên, Vạn Kiếp,... đánh đuổi hoàn toàn quân Nguyên khỏi biên giới.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Năm 1288, quân Nguyên trở lại xâm lược Đại Việtlần thứ ba. Khi tiếp tục được phong Quốc công tiết chế; Hưng Đạo vương khẳng định với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn". Ông đã áp dụng thành công chiến thuật của Ngô Quyền, đánh bại hoàn toàn thủy quân nhà Nguyên do các tướng Phàn Tiếp và Ô Mã Nhi chỉ huy trong trận thủy chiến trên sông Bạch Đằng, buộc quân Nguyên lại phải rút về nước. Tháng 4 âm lịch năm 1289, Trần Nhân Tông chính thức gia phong ông làm "Đại vương" dù chức quyền đứng đầu triều đình khi đó vẫn thuộc về Thượng tướng Thái sư Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải.
Sau đó, ông lui về Vạn Kiếp đến khi mất năm 1300. Trước lúc qua đời, ông khuyên Trần Anh Tông: "Phải khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc".[2]Ngoài ra, ông còn để lại các tác phẩm kinh điển như Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược và Vạn Kiếp tông bí truyền thư đặt nền móng cho nghệ thuật quân sự Việt Nam kể từ thời Trần đến ngày nay.



