Trần Hưng Đạo
Chiều Kiếp Bạc sương giăng mờ mịt trên dòng Lục Đầu Giang. Nhìn sóng nước cuồn cuộn chảy, người ta như vẫn nghe thấy tiếng reo hò của hàng ngàn chiến thuyền năm xưa, nghe thấy tiếng xích sắt va vào đá và cái uy nghiêm của một vị đại tướng đã đi vào huyền thoại.
Chuyện về Trần Quốc Tuấn không chỉ là chuyện binh đao, mà là chuyện của một tấm lòng cao cả.
Năm xưa, cha ông là Trần Liễu trước khi trút hơi thở cuối cùng đã nắm chặt tay con mà dặn: "Con không vì cha mà lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt." Mối thù gia tộc nặng như núi. Ngai vàng ngay trước mắt, quyền lực nằm trong tay, nhưng khi quân Mông - Nguyên tràn sang như thác lũ, gạt bỏ hết thù riêng, ông dập đầu trước vua Trần Nhân Tông mà rằng: "Bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy hàng."
Mất nước thì nhà làm sao còn? Ông chủ động lấy nước thơm tắm cho Trần Quang Khải — người ở nhánh họ bên kia — để xóa bỏ mọi hiềm thù. Hai vị đầu não hòa làm một, cả đại bàng Đại Việt chung một nhịp đập.
Lại nhớ những ngày giặc Mông - Nguyên — cội nguồn sợ hãi của cả châu Á lẫn châu Âu — nghênh ngang tiến vào Thăng Long. Ông cho rút quân, thực hiện "vườn không nhà trống". Mặc cho giặc đốt phá thành trống, ông lặng lẽ chờ thời. Đêm bên ngọn đèn dầu, ông viết Hịch tướng sĩ, từng lời như rút từ ruột gan: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa..." Lời hịch ấy như ngọn lửa châm vào ngực hàng vạn binh sĩ, khiến họ tự xăm lên tay hai chữ "Sát Thát" thề sống chết với địch.
Rồi ngày đó cũng đến trên sông Bạch Đằng năm 1288. Ông tính từng con nước lên xuống, cho cắm hàng ngàn cọc gỗ đẽo nhọn bịt sắt xuống lòng sông. Khi thủy triều dâng, ông cho thuyền nhỏ ra khiêu khích rồi giả vờ thua chạy. Tướng giặc Ô Mã Nhi hăng máu đuổi theo. Đến khi nước rút nhanh như thác đổ, những mũi cọc nhọn hoắt từ lòng sông nhô lên, đâm thủng hàng loạt chiến thuyền giặc. Tiếng thuyền vỡ, tiếng quân Hán gào khóc dậy sóng cả một vùng. Một trận đánh đập tan hoàn toàn mộng xâm lược của đế chế mạnh nhất thế giới.
Thắng trận rồi, ông không màng quyền vị, không đòi làm vua, lặng lẽ lui về vùng núi rừng Kiếp Bạc sống những ngày thanh tịnh. Ngày ông mất, dân chúng khóc thương như mất đi người thân ruột thịt. Người ta không gọi ông bằng chức vị Tiết chế Quốc công, mà thành kính gọi bằng hai chữ:Đức Thánh Trần



