TRẦN HƯNG ĐẠO: BA LẦN CẦM QUÂN ĐÁNH LUI ĐẠO QUÂN NGUYÊN MÔNG
Người soạn Hịch tướng sĩ và chỉ huy trận Bạch Đằng năm 1288, đánh bại đội quân từng khuất phục nửa thế giới.
Trần Quốc Tuấn, tước hiệu Hưng Đạo Vương, sinh năm 1228, là con trai An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần Thái Tông bằng chú. Quê gốc dòng họ Trần ở phủ Thiên Trường, nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định. Ông lớn lên trong bối cảnh mâu thuẫn nội bộ giữa cha ông là Trần Liễu với triều đình, nhưng được sử sách ghi nhận là người sớm bộc lộ tài năng quân sự và được vua Trần trọng dụng, gạt bỏ hiềm khích riêng để dốc lòng vì việc nước.
Năm 1257, quân Mông Cổ lần đầu xâm lược Đại Việt, bị đánh lui. Đến năm 1285, đế quốc Nguyên do Hốt Tất Liệt sai Thoát Hoan chỉ huy đại quân tiến đánh lần thứ hai. Trần Quốc Tuấn được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân. Trước thế giặc mạnh, ông chủ trương rút lui bảo toàn lực lượng, để kinh thành Thăng Long trống, sau đó phản công giành lại thế chủ động, buộc quân Nguyên phải rút chạy trong tổn thất nặng.
Năm 1287-1288, quân Nguyên xâm lược lần thứ ba với lực lượng lớn hơn cùng đoàn thuyền lương hộ tống. Trần Quốc Tuấn cho quân chặn đánh đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, khiến quân Nguyên thiếu hụt hậu cần nghiêm trọng. Tháng 4 năm 1288, khi đạo quân Nguyên do Ô Mã Nhi chỉ huy rút lui theo đường sông Bạch Đằng, ông cho đóng cọc gỗ dưới lòng sông theo cách Ngô Quyền và Lê Hoàn từng dùng, phối hợp mai phục hai bên bờ.
Trận Bạch Đằng năm 1288 kết thúc với việc phần lớn thuyền chiến Nguyên bị đánh chìm hoặc mắc cạn vào bãi cọc khi triều rút, Ô Mã Nhi bị bắt sống. Đây là thất bại nặng khiến nhà Nguyên từ bỏ hẳn ý định xâm lược Đại Việt về sau.
Trước các chiến dịch, Trần Quốc Tuấn soạn Hịch tướng sĩ để khích lệ tướng sĩ rèn luyện, đoàn kết chống giặc, văn bản này được xem là một trong những áng văn chính luận quan trọng của văn học trung đại Việt Nam. Ông cũng để lại các trước tác quân sự như Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư.
Ông được các vua Trần phong tước Hưng Đạo Đại Vương, giữ chức Quốc công tiết chế thống lĩnh quân đội cho đến cuối đời. Trần Hưng Đạo mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý, tức năm 1300, tại phủ đệ riêng ở Vạn Kiếp (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương). Đền Kiếp Bạc tại đây, nơi ông từng lập căn cứ và qua đời, hiện là di tích quốc gia đặc biệt, tổ chức lễ hội lớn vào tháng 8 âm lịch hằng năm, thu hút hàng vạn người dân về dâng hương.



