Trần Hưng Đạo – Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn
Vào thế kỷ thứ 13, trên thảo nguyên Trung Á xuất hiện một thế lực đáng sợ: quân Mông Cổ. Từ những bộ lạc du mục nhỏ, Mông Cổ đã hợp nhất dưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn và trở thành một đội quân hùng mạnh nhất thế giới. Biên niên sử còn ghi lại rằng, vó ngựa quân Mông Cổ đi đến đâu, cỏ không mọc được đến đó.
Tại châu Á, quân Mông Cổ tấn công Trung Quốc, khiến nhà Tống đại bại, phải bỏ kinh thành rồi tháo chạy hết lần này tới lần khác. Năm 1279, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ thôn tính.
Tại châu Âu, sau một thời gian tung hoành chiếm hết Trung Á, vó ngựa Mông Cổ dồn dập tiến vào châu lục này. Các thành phố lớn như Mascova đều bị đốt cháy. Liên quân châu Âu được thành lập để chống lại quân Mông Cổ cũng bị đập tan. Nhiều nước mong muốn cầu hòa và cống nạp cho quân Mông Cổ.
Sau khi đánh tan nhà Tống, triều Nguyên của người Mông Cổ được thành lập. Quân Nguyên tiếp tục mưu đồ tràn xuống phía Nam. Thế nhưng đến đây, vó ngựa của đại quân Nguyên – Mông vốn dày xéo khắp nơi từ Á sang Âu đã bị chặn đứng bởi một vị tướng huyền thoại, mà theo Giáo sư Lưu Trung Khảo: “nếu như trời sinh thiên tài này ở nhà Tống thì lịch sử Trung Quốc trước đây đâu có chuyện bị triều đại nhà Nguyên đô hộ 100 năm”. Người đó chính là Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất lịch thế giới1.Thanh thiên đồng tử giáng thế
Khi Trần Hưng Đạo ra đời, trong nhà tràn ngập hương thơm và ánh sáng. Một vị đạo sĩ do coi thiên văn thấy có một vị tướng tinh giáng hạ liền đến xin xem mặt Trần Quốc Tuấn. Khi nhìn thấy, vị đạo sĩ vội lui xuống vái lại, nói: “Người này tốt lắm, về sau cứu nước giúp đời, làm sáng sủa cho non sông.”
Trần Quốc Tuấn đầy một tuổi đã biết nói. Năm 5 tuổi đã biết làm thơ ngũ ngôn bài “Chơi Đồ Bát Trận”. Thông minh xuất chúng, ông lại được cha mình là An Sinh Vương Trần Liễu chọn thầy giỏi nhất dạy dỗ, nên ngay từ sớm đã trở thành người văn võ toàn tài, hơn hẳn bạn bè đồng trang lứa.
2.Vận nước và thù nhà
Năm 1237, sau 12 năm vua Trần Thái Tông lên ngôi mà không có con nối dõi, lo sợ nhà Trần bị tuyệt hậu, Trần Thủ Độ đã thực hiện một loạt sự sắp đặt gây ra sự oán hận cho nhiều người, bao gồm cả Trần Liễu – cha của Trần Quốc Tuấn.
Trần Thủ Độ gây sức ép để vua phế hoàng hậu Lý Chiêu Hoàng, cưới chị dâu là công chúa Thuận Thiên khi đang làm vợ và mang thai ba tháng với Trần Liễu. Trần Liễu tức giận mang binh rửa hận, nhưng thân cô thế yếu nên việc bất thành, cuối cùng phải buông giáp quy hàng. Tùy tướng gia binh bị giết hết, bản thân ông bị giáng làm An Sinh Vương cho về an trú ở đất Yên Sinh. Song điều này không dập nổi lòng thù hận của Trần Liễu.
Ông kén thầy giỏi dạy Trần Quốc Tuấn thành bậc văn võ toàn tài, ký thác vào con mối thù sâu nặng. Lúc sắp mất, ông cầm tay Quốc Tuấn trăn trối rằng: “Không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”
Thời xưa, chữ Hiếu vô cùng được coi trọng. Hơn nữa, khi ấy Trần Quốc Tuấn có trong tay mình nhiều gia tướng tài năng, đặc biệt là Ngũ hổ tướng: Dã Tượng, Kỵ Kiêu, Cao Mang, Đại Hành và Nguyễn Địa Lô. Cùng với tài cầm quân thao lược, ông hoàn toàn có thể lật đổ ngôi vua, lấy được thiên hạ như lời cha dặn.
Nhưng lúc ấy vận nước đang lâm nguy. Quân Nguyên – Mông ngấp nghé xâm lược bờ cõi. Nếu nội bộ nhà Trần lục đục mâu thuẫn, chắc chắn sẽ dẫn đến đại họa nước mất nhà tan. Trần Quốc Tuấn nhận thấy việc quan trọng nhất là đoàn kết nội bộ nhà Trần, cùng hợp sức giết giặc mới mong bảo vệ non sông xã tắc.
Nên ông đã hòa hiếu với Trần Quang Khải – người là đầu mối của một chi lớn trong họ Trần, đồng thời là con vua Trần Thái Tông, kẻ thù của cha ông. Sự hòa hợp của hai người chính là sự thống nhất ý chí của toàn bộ vương triều Trần, đảm bảo đánh thắng quân Nguyên hung hãn.
Chuyện kể rằng, thời ấy tại một bến sông, Trần Quốc Tuấn chủ động mời Thái Sư Trần Quang Khải sang thuyền mình trò chuyện, chơi cờ và sai nấu nước thơm, tự mình tắm rửa cho Trần Quang Khải để thể hiện thiện chí. Từ đó, hai người trở nên thân thiết, đồng sức đồng lòng bảo vệ giang sơn xã tắc.
Một lần khác, ông đem việc xích mích trong dòng họ do ý các con. Trần Quốc Tảng có ý khích ông cướp ngôi vua. Ông nổi giận định rút gươm toan chém, do các con và người tâm phúc sớm vào van xin nên ông mới bớt giận, thu gươm, nhưng bảo rằng: “Từ nay cho đến khi ta nhắm mắt, ta sẽ không nhìn mặt thằng nghịch tử này nữa.”
Trong chiến tranh, Trần Quốc Tuấn luôn hộ giá bên vua. Tay chỉ cầm cây gậy bịt sắt, vậy mà vẫn có lời dị nghị sợ ông sát vua. Ông bẻ bỏ luôn phần gậy bịt sắt, chỉ chống gậy không khi gần cận nhà vua, và sự nghi kỵ cũng chấm dứt.
Một tấm lòng trung trinh son sắt, đoàn kết mọi người vì nghĩa lớn. Vua Trần cũng vô cùng tin tưởng, phong cho ông là Quốc công Tiết chế – tổng chỉ huy quân đội nhà Trần
3.tướng sĩ thiên cổ hùng văn chống giặc phương Bắc.
Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, đại binh Thoát Hoan tiến đánh. Chỉ Lăng thất thủ, Trần Quốc Tuấn đưa quân lui về Vạn Kiếp. Vua Trần thấy thế giặc mạnh, cho mời ông về Hải Dương mà than rằng: “Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà cửa bị phá hại. Hay là Trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?”
Trần Quốc Tuấn tâu: “Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã rồi sau hãy hàng.” Vua nghe vậy liền yên lòng.
Trần Quốc Tuấn chầu về Vạn Kiếp, hiệu triệu 30 vạn quân sĩ và thảo bài dụ tướng sĩ – Hịch tướng sĩ – để khuyên răn tướng sĩ và binh lính học tập, rèn luyện võ nghệ, chuẩn bị cho cuộc chiến chống giặc Mông – Nguyên. Hịch tướng sĩ với những câu văn hùng hồn, lẫm liệt trở thành áng thiên cổ hùng văn của Đại Việt.


