Bài viết

TRẦN HƯNG ĐẠO – KHÍ PHÁCH ĐẠI VIỆT TRÊN SÓNG BẠCH ĐẰNG

Có những con người đã đi xa hàng trăm năm nhưng tên tuổi vẫn sống mãi cùng đất nước. Với dân tộc Việt Nam, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một con người như thế. Ông là vị thống soái tài ba trong những cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỷ XIII, đồng thời là biểu tượng của lòng trung nghĩa, ý chí tự cường và tinh thần đặt vận mệnh quốc gia lên trên lợi ích riêng.

16/10/2026Xã Tuấn Đạo (Đoàn xã Tuấn Đạo)1 lượt xem0 lượt chia sẻ



TRẦN HƯNG ĐẠO – KHÍ PHÁCH ĐẠI VIỆT TRÊN SÓNG BẠCH ĐẰNG

Có những con người đã đi xa hàng trăm năm nhưng tên tuổi vẫn sống mãi cùng đất nước. Với dân tộc Việt Nam, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn là một con người như thế. Ông là vị thống soái tài ba trong những cuộc kháng chiến chống quân Nguyên thế kỷ XIII, đồng thời là biểu tượng của lòng trung nghĩa, ý chí tự cường và tinh thần đặt vận mệnh quốc gia lên trên lợi ích riêng.

Trần Quốc Tuấn sinh ra trong hoàng tộc nhà Trần, là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Trưởng thành giữa những mối bất hòa trong gia đình và vương triều, ông đã lựa chọn gác lại hiềm khích, tận lòng phò vua, giữ nước. Với ông, trước hiểm họa ngoại xâm, sự đoàn kết của triều đình và nhân dân là điều phải giữ gìn bằng mọi giá.

Thế kỷ XIII, vó ngựa Mông Cổ từng chinh phục nhiều vùng đất rộng lớn từ Á sang Âu. Khi nhà Nguyên dồn sức tiến đánh Đại Việt, đất nước đứng trước một thử thách sống còn. Đối phương có quân đông, thế mạnh và tham vọng khuất phục bằng được quốc gia nhỏ bé ở phương Nam.

Trong hoàn cảnh ấy, Trần Quốc Tuấn được triều đình giao trọng trách Quốc công tiết chế, thống lĩnh quân đội. Đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến năm 1285 và 1287–1288, tài năng của ông trở thành một trong những nhân tố quyết định đưa quân dân nhà Trần đến thắng lợi.

Ông hiểu rằng lòng dũng cảm phải đi cùng mưu lược. Trước sức tiến công mạnh mẽ của giặc, quân dân Đại Việt có lúc chủ động rút lui, bảo toàn lực lượng, thực hiện kế sách “vườn không nhà trống”, khiến đối phương càng tiến sâu càng khó tìm lương thực. Những cuộc rút quân ấy đòi hỏi bản lĩnh rất lớn: biết nhẫn nại trước tình thế hiểm nghèo, giữ vững đội ngũ và chờ thời cơ phản công.

Trần Hưng Đạo còn hiểu rằng muốn thắng giặc, trước hết phải khơi dậy trách nhiệm trong lòng người cầm quân. Trong Hịch tướng sĩ, ông chỉ rõ nỗi nhục khi đất nước bị xâm phạm, phê phán sự thờ ơ, ham hưởng lạc và thôi thúc tướng sĩ chuyên tâm rèn luyện. Lời hịch mang nỗi đau của một người yêu nước, đồng thời là tiếng gọi đánh thức danh dự và ý chí chiến đấu.

Dưới sự lãnh đạo của các vua Trần, cùng tài thao lược của Trần Hưng Đạo và nhiều tướng lĩnh, sức mạnh ấy đã trở thành những đợt phản công quyết liệt. Năm 1285, các chiến thắng Hàm Tử, Chương Dương, Tây Kết góp phần xoay chuyển cục diện chiến tranh, buộc quân Nguyên phải tháo chạy. Đại Việt vượt qua một thử thách tưởng chừng có thể làm đất nước khuất phục.

Nhưng chiến công rực rỡ nhất gắn liền với tên tuổi Trần Hưng Đạo là trận Bạch Đằng năm 1288.

Trên dòng sông chịu ảnh hưởng của thủy triều, quân dân nhà Trần chuẩn bị trận địa cọc, bố trí lực lượng mai phục và phối hợp chặn đánh đoàn chiến thuyền địch đang rút lui. Khi nước còn cao, những hàng cọc nằm khuất dưới mặt sông. Quân ta nhử đối phương vào khu vực đã chuẩn bị, chờ lúc nước rút để tung đòn quyết định.

Khi thủy triều xuống, bãi cọc hiện ra, cản trở đội hình thuyền giặc. Từ các hướng, quân Đại Việt đồng loạt tiến công. Đoàn thủy quân Nguyên bị đánh tan, tướng Ô Mã Nhi bị bắt. Dòng Bạch Đằng một lần nữa ghi dấu chiến thắng lớn trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Phía sau chiến công ấy là sự am hiểu địa hình, khả năng tính toán thời cơ và nghệ thuật phối hợp lực lượng. Đó còn là công sức của biết bao người dân, binh lính và tướng sĩ đã cùng chuẩn bị, chiến đấu, hy sinh. Tài năng của người thống soái phát huy sức mạnh lớn nhất khi gắn với lòng dân và ý chí của cả đất nước.

Năm 1300, Trần Hưng Đạo qua đời. Trước lúc mất, ông vẫn đau đáu việc giữ nước, căn dặn phải chăm lo sức dân để xây dựng nền gốc lâu bền. Tư tưởng ấy cho thấy tầm nhìn của một người từng trải qua chiến tranh: thành lũy có thể dựng lại, quân đội có thể rèn luyện, nhưng muốn đất nước vững vàng thì nhân dân phải được nuôi dưỡng và bảo vệ.

Hơn bảy thế kỷ đã trôi qua, nhân dân vẫn kính trọng gọi ông là Đức Thánh Trần. Sự tôn kính ấy bắt nguồn từ lòng biết ơn đối với một người đã dành trọn tài năng và tâm huyết cho non sông.

Nhắc đến Trần Hưng Đạo là nhớ đến sóng Bạch Đằng, đến lời hịch lay động lòng người và đến một thời Đại Việt kiên cường trước giặc mạnh. Cuộc đời ông để lại bài học bền vững: biết đặt việc nước lên trên thù riêng, lấy đoàn kết làm sức mạnh, lấy trí tuệ làm phương cách và lấy nhân dân làm gốc.

Bạch Đằng vẫn chảy. Lịch sử vẫn truyền lại tên ông. Và khí phách của Hưng Đạo Đại Vương vẫn sống trong ý chí gìn giữ độc lập của người Việt Nam.



Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
TRẦN HƯNG ĐẠO – KHÍ PHÁCH ĐẠI VIỆT TRÊN SÓNG BẠCH ĐẰNG | Câu chuyện thời hoa lửa