Trần Hưng Đạo - Tượng đài bất khuất của Đại Việt
Trần Hưng Đạo - Tượng đài bất khuất của Đại Việt
Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người đã vượt qua giới hạn của thời gian, trở thành tượng đài vĩnh cửu trong tâm thức của mỗi thế hệ người Việt. Nhắc đến những bậc vĩ nhân ấy, không thể không nhắc đến Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị anh hùng dân tộc kiệt xuất, nhà tư tưởng, nhà quân sự thiên tài đã góp phần viết nên những trang sử vàng chói lọi nhất thời đại nhà Trần. Cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của ông không chỉ gắn liền với chiến thắng lẫy lừng của ba lần kháng chiến chống quân Nguyên – Mông xâm lược, mà còn để lại cho hậu thế những bài học vô giá về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và nghệ thuật quân sự đỉnh cao.
Trần Quốc Tuấn sinh ra trong một gia đình hoàng tộc quyền quý, mang trong mình dòng máu hào khí Đông A sục sôi. Ngay từ những năm tháng tuổi trẻ, ông đã thể hiện rõ tư chất thông minh, văn võ song toàn và một hoài bão lớn lao. Thế nhưng, điều làm nên cốt cách vĩ đại của Trần Hưng Đạo chính là việc ông biết gác lại những tỵ hiềm, ân o。an riêng tư của gia tộc để đặt vận mệnh của giang sơn, xã tắc lên trên hết. Khi đất nước đứng trước họa vong quốc, khi đế quốc Mông – Nguyên bấy giờ đang bành trướng khắp năm châu bốn bể, gieo rắc tang thương và kinh hoàng từ Á sang Âu, Đại Việt trở thành một mục tiêu nhỏ bé bị chúng nhòm ngó. Trước tình thế "ngàn cân treo sợi tóc" ấy, Trần Quốc Tuấn đã được triều đình và vua Trần trao trọng trách lớn lao là Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân chống giặc ngoại xâm.
Nhìn lại ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông, đặc biệt là lần kháng chiến thứ hai và thứ ba, thiên tài quân sự của Trần Hưng Đạo đã được bộc lộ một cách rõ nét nhất. Không chọn cách đối đầu trực diện với độiσ quân kỵ binh hùng hổ đang ở đỉnh cao phong độ, ông đã vận dụng linh hoạt lối đánh "lấy yếu chống mạnh", "lấy ít địch nhiều", biến nhược điểm thành ưu điểm. Ông chủ trương thực hiện chiến thuật "vườn không nhà trống", rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, làm nhụt ý chí và tiêu hao sinh lực của địch. Những chiến công vang dội tại Vạn Kiếp, Chương Dương, Hàm Tử và đặc biệt là trận quyết chiến chiến lược trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử mãi mãi là minh chứng hào hùng cho nghệ thuật quân sự độc đáo của Đại Việt. Trên sông Bạch Đằng năm 1288, với những bãi cọc ngầm được mai phục tinh vi, tận dụng triệt để quy luật thủy triều, Trần Hưng Đạo đã đập tan hoàn toàn mộng xâm lăng của đại quân giặc, bắt sống nhiều tướng lĩnh sừng sỏ và khiến kẻ thù phải khiếp vía kinh hồn mỗi khi nhắc đến tên ông.
Song, sức sống mãnh liệt và tầm vóc lớn lao của Trần Hưng Đạo không chỉ nằm ở những chiến công binh đao dồn dập, mà còn tỏa sáng rực rỡ qua tư tưởng nhân nghĩa, triết lý "khoan thư sức dân" và tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Trong bối cảnh thù trong giặc ngoài, khi các bô lão tụ họp tại hội nghị Diên Hồng hô vang hai chữ "Đánh!", đó chính là kết quả của một quá trình vun đắp lòng dân sâu sắc mà Trần Quốc Tuấn là hạt nhân chủ đạo. Ông thấu hiểu sâu sắc chân lý: "Sách lược hay nhất để giữ nước chính là lấy lòng dân làm gốc", "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Đối với ông, dân chính là cội nguồn của sức mạnh, là nền móng vững chắc nhất để chống lại mọi thế lực bạo tàn. Sự đoàn kết đồng lòng giữa vua tôi nhà Trần, giữa triều đình và trăm họ đã tạo nên một thứ "thành trì" kiên cố nhất mà không một thứ vũ khí tối tân nào của kẻ thù có thể phá vỡ.
Không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc, Trần Quốc Tuấn còn là tác giả của những áng thiên cổ hùng văn và binh thư có giá trị lý luận sâu sắc. Tác phẩm Hịch tướng sĩ (Biên tướng sĩ hịch) do ông soạn thảo là một áng văn chương bất hủ, kết tinh từ lòng yêu nước nồng nàn, ý chí căm thù giặc sâu sắc và tấm lòng trung quân ái quốc vô bờ bến. Từng câu, từng chữ trong bài hịch như nhữngát dao cứa vào lòng tự ái và ý thức trách nhiệm của các tướng sĩ bấy giờ, thức tỉnh họ trước hiểm họa mất nước, mất nhà. Đến tận ngày nay, những áng văn ấy vẫn vang vọng tiếng nói của lòng tự hào dân tộc, nhắc nhở thế hệ mai sau về trách nhiệm bảo vệ và xây dựng giang sơn. Sau khi đất nước thái bình, gác lại mọi vinh quang tột đỉnh, ông lại lui về ẩn dật tại vùng đất Vạn Kiếp, giữ trọn vẹn khí tiết của một bậc bề tôi trung nghĩa, thanh cao.
Chính vì những công lao trời biển và phẩm chất đạo đức sáng ngời ấy, sinh thời, nhân dân đã kính trọng tôn vinh ông là Đức Thánh Trần, lập đền thờ khắp mọi miền đất nước. Hình ảnh Trần Hưng Đạo vượt lên trên khuôn khổ của một vị tướng thời Trần, trở thành một biểu tượng tinh thần linh thiêng trong văn hóa tâm linh của người Việt. Nguyện vọng bảo vệ non sông, ý chí bất khuất trước ngoại xâm và đạo lý làm người mà ông để lại đã trở thành ngọn đuốc soi đường cho bao thế hệ con Lạc cháu Hồng trong những năm tháng kháng chiến giữ nước sau này.
Trải qua hàng thế kỷ, gió sương có thể phủ mờ nhiều dấu tích, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vẫn trường tồn cùng non sông đất Việt. Hướng về ông là hướng về cội nguồn của lòng yêu nước chân chính, của tinh thần tự lực tự cường và ý chí đại đoàn kết dân tộc. Những giá trị mà Trần Hưng Đạo để lại không chỉ thuộc về quá khứ lịch sử hào hùng, mà vẫn mang hơi thở nóng hổi, tiếp thêm sức mạnh cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau trên con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.



