Trần Hưng Đạo và truyền thuyết được Thần cho mượn thuyền quyết chiến giặc Nguyên
Trần Hưng Đạo và truyền thuyết được Thần cho mượn thuyền quyết chiến giặc Nguyên
Kiếp Bạc là một trong những địa danh nổi tiếng ở nước ta gắn liền với người anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Vào thời Trần, Kiếp Bạc thuộc hương Vạn Kiếp, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương).
Từ Vạn Kiếp có nhiều đường thủy bộ lên núi, xuống vùng đồng bằng, đi ra biển…, tất cả tạo thành một cảnh quan hùng vĩ, một vị trí quân sự quan trọng và chứa đựng trong nó nhiều truyền thuyết ly kỳ.
Dưới chân núi Ngũ Nhạc, sát với núi Phượng Hoàng có một ngôi đền tương truyền được xây dựng từ lâu đời, đến triều Lý và triều Trần được mở rộng quy mô lớn hơn; đền thờ một vị thần hiệu là Phi Bồng đại tướng quân, nhân dân thì tôn gọi là "đức Thánh Yên Mô" (nay thuộc thôn Yên Mô, xã Lê Lợi, huyện Chí Linh, Hải Dương).
Tại đến có tấm bia 4 mặt có tên là Thần tích bi ký (bia ghi thần tích) dựng năm Đinh Sửu niên hiệu Bảo Đại thứ 12 (1937) nói về sự tích của Ngài.
Theo đó, xưa kia Yên Mô là một trang ấp, tại đây có gia đình ông Chu Thức và vợ là Hoàng Thị Ba, hiệu Diệu La vốn là người lương thiện, hay làm việc phúc, chăm chỉ nghề cầy cấy nên ai cũng quý mến.
Thế nhưng họ có một nỗi buồn bởi ông bà tuổi đã già mà vẫn chưa có con nối dõi; họ thành tâm làm lễ cầu phúc sinh con trai, lại ra sức cứu giúp người nghèo và thường hay đi lễ chùa.
Một hôm ông bà đến chùa Trường Liêu lễ bái rồi ngủ, đến nửa đêm mộng thấy sứ giả cho biết Ngọc Hoàng giáng sẽ cho một ngôi sao xuống đầu thai làm con, sau lại cứu nước giúp dân.
Đúng một năm sau, vào giờ ngọ ngày 5 tháng 5 năm Ngọ thì sinh ra một cậu bé khôi ngô khác thường. Khi sinh thấy trời đất mờ mịt, hương thơm tỏa khắp, trên trời như có ba tiếng sấm; hai vợ chồng mừng rỡ đặt tên con là Chu Hiệu, tự là Phúc Uy.
Được cha mẹ quan tâm, giáo dục từ nhỏ nên Phúc Uy "ngày ngày thường trong phòng đọc văn thư, tối đến luyện binh thư võ lược, cung tên không gì là không biết". Năm 15 tuổi thì cha mẹ lần lượt qua đời, Phúc Uy "lúc nào cũng đèn hương, một lòng kính hiếu, làng xóm biết điều này ai cũng phục và cảm động".
Năm Nhâm Tuất (542), khi nghe tin Lý Bí phất cờ khởi nghĩa, Chu Phúc Uy tập hợp được hơn 10 người tài giỏi đi theo phò giúp, được Lý Bí phong làm Nha tướng.
Sau khi đánh đuổi giặc Lương, giành lại nền độc lập, năm Giáp Tý (544) Lý Bí lên ngôi tự xưng là Nam Việt Đế (sử quen gọi là Lý Nam Đế); vua đã phong cho Chu Phúc Uy là Uy Vũ Đại tướng quân, lệnh cho trấn giữ Hải Dương.
Tại đây ông quan tâm đến dân chúng, khuyến khích họ chăm nghề trồng cấy, ban tiền bạc để mua, ruộng đất dùng vào việc công…, ai ai cũng đội ơn đức.
Theo chính sử, vào tháng 6 năm Ất Sửu (545) vua Lương sai Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem một lực lượng lớn binh mã sang xâm lược nước ta, mặc dù tổ chức chặn đánh quyết liệt nhưng vì thế giặc quá mạnh nên quân ta dần dần bị đẩy lui, nhiều thành lũy rơi vào tay giặc.
Còn thần tích chép rằng, lúc giặc kéo sang, Lý Nam Đế gọi Chu Phúc Uy về trấn giữ Bắc Đạo, ông cầm quân đánh giặc ở sông Thiên Đức nhưng bị thương đành phải thu quân rút về Việt Yên rồi hóa ở đó vào ngày 11 tháng 8.
Người dân trang Yên Mô là nơi Chu Phúc Uy đặt hành doanh khi trấn trị ở Hải Dương, nghe tin buồn đã cùng nhau lập đền thờ ông.



