TRẦN HỮU ĐỘ - NHÀ BÁO CHIẾN SĨ , NHÀ LÝ LUẬN CÁCH MẠNG KIÊN TRUNG
Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Nam Bộ đã ghi nhận nhiều nhà yêu nước, nhà cách mạng đã dùng ngòi bút làm vũ khí để chống lại chế độ thực dân áp bức. Trong số đó, cụ Trần Hữu Độ là một gương mặt tiêu biểu. Cuộc đời của cụ là hành trình bền bỉ đấu tranh bằng tư tưởng, lý luận và báo chí cách mạng, góp phần thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân và truyền bá những tư tưởng tiến bộ đến với quần chúng lao động.
Cụ Trần Hữu Độ, tự Quân Hiển, sinh năm Đinh Hợi (1887) tại làng Láng Thé, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Cụ sinh trưởng trong một gia đình nho học giàu truyền thống yêu nước. Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Nam Kỳ, gia đình cụ không chấp nhận cộng tác với chính quyền thực dân mà trở về quê nhà sinh sống bằng nghề nông. Chính môi trường gia đình ấy đã nuôi dưỡng trong cụ lòng tự hào dân tộc và tinh thần bất khuất trước ngoại xâm.
Từ nhỏ, cụ được học chữ Nho, sau đó tiếp cận chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp. Lớn lên trên vùng đất Láng Thé – nơi từng diễn ra nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân của các sĩ phu yêu nước như Phan Tôn, Phan Liêm, Nguyễn Giao và Lê Cẩn – cụ sớm được hun đúc tinh thần yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc.
Năm 1902, trong bối cảnh phong trào Duy Tân phát triển mạnh mẽ ở Nam Kỳ, gia đình tạo điều kiện cho cụ lên Sài Gòn học tập. Đây là bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời của người thanh niên Trần Hữu Độ. Tại Sài Gòn, cụ có cơ hội gặp gỡ và kết giao với nhiều nhà yêu nước, trí thức tiến bộ như Nguyễn Viên Kiều, Trần Chánh Chiếu, Trương Gia Tuần và Trương Gia Mô.
Trong thời gian này, cụ vừa học tập vừa tham gia hoạt động văn chương, báo chí. Cùng với những người bạn đồng chí hướng, cụ thành lập một nhóm sáng tác văn học nhằm cổ vũ tinh thần yêu nước, lên án chế độ thực dân phong kiến và ủng hộ phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu khởi xướng. Khi các phong trào yêu nước bị đàn áp, cụ tiếp tục tìm tòi con đường cứu nước mới thông qua việc nghiên cứu các học thuyết chính trị, xã hội tiến bộ của thế giới.
Năm 1912, sau khi lập gia đình, cụ định cư hẳn tại Sài Gòn và sống bằng nghề viết báo, viết sách. Đây cũng là giai đoạn tài năng báo chí của cụ được khẳng định. Trong thập niên 1920, hàng loạt bài báo của cụ đã mạnh mẽ tố cáo bản chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân, lên tiếng đòi các quyền tự do dân chủ và quyền sống cho nhân dân lao động.
Từ năm 1924 đến năm 1928, cụ xuất bản hơn mười đầu sách có nội dung tiến bộ, cổ vũ tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập dân tộc. Những tác phẩm này nhanh chóng được đông đảo nhân dân, trí thức và thanh niên đón nhận. Lo sợ trước ảnh hưởng ngày càng lớn của cụ, chính quyền thực dân Pháp đã ra lệnh tịch thu toàn bộ các ấn phẩm.
Năm 1928, thực dân Pháp bắt giam cụ tại Khám Lớn Sài Gòn với cáo buộc “xúi dân làm loạn”. Trong nhà tù, cụ cùng các chính trị phạm tiến hành tuyệt thực và đấu tranh đòi xét xử công khai. Trước sức ép của dư luận, thực dân Pháp buộc phải đưa cụ ra tòa nhưng vẫn kết án 18 tháng tù giam.
Nhà tù không khuất phục được ý chí của người chiến sĩ yêu nước. Sau khi mãn hạn tù, cụ tiếp tục tham gia các hoạt động cách mạng và tích cực ủng hộ việc thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước. Cuối năm 1930, cụ vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, chính thức đứng trong hàng ngũ tiên phong của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Sau khi trở thành đảng viên cộng sản, hoạt động của cụ ngày càng sôi nổi và sâu sắc hơn. Cụ thành lập “Tân văn hóa tùng thư”, vận động sáng tác và xuất bản các tác phẩm mang tư tưởng tiến bộ. Đây là giai đoạn cụ nghiên cứu sâu về chủ nghĩa Mác – Lênin và từng bước trở thành một nhà lý luận cách mạng có uy tín ở Nam Kỳ.
Trong các năm 1936 – 1937, cụ cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về Biện chứng pháp và Duy vật sử quan. Những tác phẩm này không chỉ góp phần truyền bá thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác mà còn là vũ khí sắc bén chống lại hệ tư tưởng phản động của thực dân Pháp. Ngòi bút của cụ đã trở thành một mặt trận đấu tranh tư tưởng đầy hiệu quả.
Chính vì những hoạt động ấy, năm 1941, thực dân Pháp tiếp tục bắt giữ cụ lần thứ hai và đày ra vùng Tà Lài – Bà Rá, nơi nổi tiếng là vùng rừng thiêng nước độc. Trong điều kiện giam cầm khắc nghiệt, cụ vẫn giữ vững khí tiết cách mạng. Mãi đến năm 1943, cụ mới được trả tự do.
Ngay sau khi ra tù, dù sức khỏe đã suy giảm nghiêm trọng bởi những năm tháng tù đày và tra tấn, cụ vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Cụ được Đảng giao nhiệm vụ làm Chủ tịch Đông Dương Văn sĩ Liên đoàn – tổ chức tập hợp các văn nghệ sĩ yêu nước theo khuynh hướng tiến bộ và cánh tả. Dưới sự lãnh đạo của cụ, tổ chức đã góp phần bảo vệ quyền lợi của giới văn nghệ sĩ và cổ vũ phong trào đấu tranh dân chủ trong quần chúng.
Tuy nhiên, những đòn tra tấn tàn bạo của kẻ thù đã để lại những di chứng nặng nề. Đầu năm 1945, sức khỏe của cụ suy kiệt. Tháng 2 năm 1945, cụ Trần Hữu Độ qua đời tại Sài Gòn, hưởng thọ 68 tuổi. Sự ra đi của cụ diễn ra chỉ vài tháng trước thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, để lại niềm tiếc thương sâu sắc đối với đồng chí, bạn bè và đông đảo giới trí thức yêu nước Nam Bộ.
Cuộc đời của cụ Trần Hữu Độ là biểu tượng đẹp về lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh không mệt mỏi và ý chí kiên cường của người chiến sĩ cộng sản. Cụ đã sử dụng ngòi bút như một thứ vũ khí sắc bén để chống lại áp bức, truyền bá tư tưởng tiến bộ và thức tỉnh lòng yêu nước trong nhân dân.
Ngày nay, tấm gương của cụ vẫn mang ý nghĩa sâu sắc đối với thế hệ trẻ. Đó là bài học về bản lĩnh chính trị, tinh thần học tập không ngừng, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng và trách nhiệm của người trí thức đối với đất nước. Cuộc đời cụ Trần Hữu Độ mãi mãi là niềm tự hào của quê hương Trà Vinh và của nền báo chí cách mạng Việt Nam.



