TRẦN HỮU DỰC - NGƯỜI ĐẢNG VIÊN TIỀN BỐI CỦA ĐẢNG
Trần Hữu Dực sinh ngày 15 tháng 1 năm 1910 tại làng Dương Lệ Đông, nay thuộc xã Triệu Thuận, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Lớn lên trong cảnh đất nước mất độc lập, người dân chịu nhiều áp bức, ông sớm tìm đến sách báo và những tư tưởng tiến bộ.
Năm 1925, khi mới 15 tuổi, Trần Hữu Dực bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng; tháng 11 năm 1926, tại quê nhà Dương Lệ Đông, ông chủ trì thành lập tổ chức yêu nước “Ái hữu dân đoàn”, từ đó từng bước xây dựng cơ sở trong quần chúng. Đầu năm 1929, ông lên An Tiêm, Triệu Thành dạy học nhưng thực chất là để móc nối với các tổ chức yêu nước và hoạt động cách mạng; đến năm 1929, ông trở thành đảng viên cộng sản.
Tháng 11 năm 1930, khi Tỉnh ủy Quảng Trị được thành lập, ông được giao làm Bí thư Tỉnh ủy khi mới 20 tuổi. Con đường cách mạng sau đó là những năm tháng liên tiếp đối mặt với tù đày và tra tấn. Đầu năm 1931, ông bị bắt lần thứ hai và bị giam tại nhà lao Quảng Trị; những cuộc thẩm vấn kéo dài hơn bốn tuần không khuất phục được người thanh niên cộng sản, cuối cùng ông bị đày lên Lao Bảo. Năm 1936, từ Lao Bảo, ông bị chuyển đến nhà đày Buôn Ma Thuột. Tháng 9 năm 1941, ông lại bị bắt tại Ninh Thuận; lần này, theo hồi ức được ghi lại, địch tra tấn ông liên tục trong nhiều ngày nhưng vẫn không thể buộc ông khuất phục, rồi kết án ông 20 năm tù và cộng thêm 4 năm do trốn tù, đưa trở lại Buôn Ma Thuột lần thứ hai. Trong những năm tháng bị giam cầm, Trần Hữu Dực không chỉ giữ vững khí tiết mà còn tham gia tổ chức, động viên đồng chí đấu tranh trong nhà tù.
Đặc biệt, sáng mồng Một Tết năm 1944, các chiến sĩ cộng sản trong nhà đày Buôn Ma Thuột đã tổ chức một cuộc duyệt binh, chào cờ Tổ quốc ngay giữa nơi giam cầm; cuộc hoạt động do Trần Hữu Dực cùng các đồng chí tổ chức, có hàng trăm tù nhân tham gia, trở thành một hình ảnh đặc biệt về ý chí của những người tù cộng sản: bị xiềng xích về thân thể nhưng không khuất phục về tinh thần. Chính những năm tháng ấy đã tạo nên hình ảnh Trần Hữu Dực “bước qua đầu thù” – một con người đi qua nhà tù, đòn roi và những thử thách khắc nghiệt mà vẫn giữ niềm tin vào cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước, trong đó có Phó Thủ tướng Chính phủ và Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; ông qua đời ngày 21 tháng 8 năm 1993.
Cuộc đời ông vì thế không chỉ là một bảng dài những chức vụ, mà còn là câu chuyện về một người con Quảng Trị từ tuổi 15 đã lựa chọn con đường cách mạng và dành trọn cuộc đời cho đất nước.



